Thứ Tư, 1 tháng 8, 2007

Chân Dung Một Kháng Chiến Quân

Gặp nhau từ phá núi khai sông
Từ gọi nhau chim lạc chim hồng
Từ nhuộm răng ăn trầu búi tóc
Từ ngực xâm hình con giao long...

Đúng như lời thơ Bắc Phong, những kháng chiến quân đã gặp nhau trong một bối cảnh rất hùng mà rất thơ như vậy. Họ là những người đi tìm và đã gặp. Họ đã gặp Kháng Chiến. Họ đã gặp nhau.

Có người trực tiếp tìm đến kháng chiến Việt Nam từ những ổ kháng cự trong nước. Có người giải thể tổ chức kháng cự để cùng hết cả anh em sáp nhập vào Mặt Trận. Có người đến từ trại tỵ nạn. Có người đến từ chiến trường Kampuchia. Có người đi dọc sông Mekong từ vương quốc Lào. Có người về từ Nhật Bản, Bắc Mỹ, Tây Âu, và cả Đông Âu....

Người cũ đón người mới. Có người là nông dân. Có nguời là công nhân. Có người là cựu quân nhân Quân Lực VNCH. Có người nguyên là xã trưởng. Có người trước đây là cảnh sát. Có người là cựu chiến binh CS. Có người từng là quản giáo một trại tù cải tạo. Có người đang là bộ đội biên phòng hay thuộc các đơn vị đóng chốt ở Miên-Lào. Có người là sĩ quan đặc công. Có người là chuyên gia bị "tự nguyện" phục vụ ở Kampuchia. Có người là thợ mộc. Có người là thợ bạc. Có người là nhà văn. Có người gốc là phi đoàn trưởng. Có người là lính truyền tin. Có người là thợ máy. Có người dắt theo vào chiến khu một cháu bé trai chưa đầy mười tuổi. Có người đang là sinh viên bị gọi đi "nghĩa vụ quân sự". Có người là "người nhái" Cam Ranh. Có người nói giọng Thanh Nghệ. Cũng có người từng là tư lệnh....

Tất cả đã hòa lẫn vào nhau trong từng công tác xây dựng lều trại, đào giao thông hào, vận lương, canh gác, giao liên, trực bếp, trực bệnh xá, viết bài, làm thơ, đặt nhạc, kỹ thuật viên máy đèn, làm xướng ngôn viên đài Việt Nam Kháng Chiến.... Quan trọng nhất là công tác huấn luyện và được huấn luyện (các khóa học từ Căn Bản kháng chiến quân lên đến Cán bộ Quân Chính),

Tất cả đã bình đẳng và thường trực chia nhau những con cá khô trong từng bữa ăn, chia nhau từng rê thuốc vấn, tự chế một loại "cà phê chiến khu" hay "chè dã chiến". Có lúc anh em tự tăng cường khẩu phần ăn bằng những mụt măng rừng, củ chụp, củ mài.... kiếm được trên đường quay về cứ sau một chuyến di hành. Gặp mùa mưa, có khi anh em phải phơi măng hái dư quá nhiều để dành dự trữ. Cũng có khi may mắn anh em được thưởng thức thịt cheo, thịt mễn hay chú heo rừng con đi lạc.... Lại có khi chia nhau ngậm miếng đường thẻ hay vài trái dâu rừng phơi khô cho đỡ đắng miệng lúc lên cơn sốt rét. Thỉnh thoảng anh em chuyền nhau những gói xôi sáng, và luân phiên nhau làm hoạt náo viên hay diễn viên trong những đêm sinh hoạt cộng đồng có đàn thùng. Có người hát ca trù. Có người hò mái đẩy. Có người ngâm Lục Vân Tiên cải biến. Lại có người hát dân ca Khờ-me....

Họ đã đến cứ trong những bộ áo quần đủ màu, đủ kiểu. Chỉ một thời gian sau, họ rời cứ với một bộ đồ đen, một chiếc khăn rằn, một lá cờ xanh, một chiếc nhẫn vàng, và một ý chí thép nguội. Họ "xuống núi", vào làng. Tất cả kháng chiến quân xuống núi đều là đảng viên Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng.

Những người kháng chiến quân Việt Nam

"Ừ bóng cây nào mà chẳng mát
Vì em đã vẫn ngồi cùng
Trái tim tôi vừa nghe đau nhói
bao giờ ta sẽ lại chung đường
Đành đã yêu nhau đôi ba năm
Và tình đã quen xa cách
Nhưng làm sao hết nỗi băn khoăn
khi mỗi lần biết ta sẽ gặp
Để em trao tin trao nụ cười
Cho tôi nghe như uống lấy lời
Và nước mắt cho riêng kể lể
trút nỗi lòng thương nhớ đầy vơi

Ừ trái sim nào mà chẳng ngọt
Khi em với hái cho ăn
Tôi chỉ biết cho em vai dựa
và vuốt tóc em rất ân cần
Vẫn hẹn lòng là sẽ lấy nhau
Sau ngày quê hương giải phóng
Ngày khung trời rợp bóng bồ câu
với những triệu cánh tay mở rộng

Đến bản Dốc là trạm nghỉ đêm
Tình của tôi càng bứt rứt thêm
Vì hôm sau mình em đi sớm
trở về xuôi để đón người lên"

(Bắc Phong - Chiến Hữu)

... sinh hoạt trong khu chiến

---- oOo ----

Ứng Từ Của Chiến Hữu Đặng Quốc Hiền
Trong Buổi Đón Mừng Tân Kháng Chiến Quân, 15-5-1982

Thưa tất cả các chiến hữu,

Tôi thật là vui mừng khi có dịp đến đây để chào mừng tất cả các chiến hữu, chào mừng những người con yêu của Tổ Quốc, chào mừng những người sẽ đem lại niềm tin cho 50 triệu đồng bào đang oằn oại trong ngục tù Việt cộng, chào mừng những người đi làm lịch sử của dân tộc.

Sự hiện diện của các chiến hữu tại chiến khu này, trong ngày hôm nay, đã chứng minh một cách hùng hồn rằng các chiến hữu đã từ bỏ cuộc sống bình thường để đi theo con đường đấu tranh cách mạng của dân tộc. Lại nữa, cũng chứng minh một cách hùng hồn rằng các chiến hữu đã sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để góp phần mình vào công cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Với ý đó, tôi, Đặng Quốc Hiền, xin đại diện trước hết cho chiến hữu Chủ tịch MTQGTNGPVN, các cán bộ và toàn thể kháng chiến quân đang hoạt động trong khu chiến này, xin hân hoan chào mừng các tân kháng chiến quân Việt Nam anh dũng.

Thưa các chiến hữu,

Tôi nghĩ rằng, từ nhiều năm nay, chính các chiến hữu hay người thân đã từng nghe nói đến những đồng bào từ bỏ rộng vườn, gia đình, nhà cửa, để tham gia vào các lực lượng Kháng Chiến chống Việt cộng. Rồi chắc các chiến hữu cũng nghe nói đến MTQGTNGPVN. Đó là chuyện mà các chiến hữu chỉ nghe nói. Nhưng ngày hôm nay đây, kể từ giờ phút này, các chiến hữu đã trở thành những chiến sĩ của MTQGTNGPVN, những kháng chiến quân Việt Nam, và quan trọng hơn nữa, các chiến hữu sẽ trực tiếp góp phần mình vào công cuộc đấu tranh chung của toàn dân để lật đổ bạo quyền Việt cộng, giải phóng đất nước.

Sau buổi đón tiếp này, các chiến hữu sẽ bắt đầu cuộc sống mới, cuộc sống tại chiến khu, một cuộc sống đòi hỏi một tinh thần tự giác cao độ, một cuộc sống đòi hỏi mình phải cố thắng chính mình, khó khăn với chính mình, nhưng nhã nhặn thương yêu đồng đội và đồng bào.

Cuộc sống chiến khu là là cuộc sống hoàn toàn vì lý tưởng của những con người chiến đấu cho lý tưởng Tự Do của Dân Tộc và Độc Lập của Quốc Gia.

Mấy phút nữa đây, các chiến hữu sẽ được cấp phát một số quân trang tùy theo khả năng hiện có của Mặt Trận. Tôi xin lưu ý các chiến hữu rằng, quân trang mà các chiến hữu sắp lãnh cũng như vũ khí mà các chiến hữu sẽ được trang bị trong tương lai, kẻ cả thực phẩm chúng ta ăn hàng ngày, đều là do toàn dân đóng góp. Vậy thì, mọi nơi, mọi lúc, các chiến hữu phải luôn luôn tâm niệm rằng, mình phải bảo vệ những vật dụng đã được cấp phát đó như bảo vệ chính mạng sống của mình.

Trong những ngày tới, các chiến hữu sẽ được các cán bộ hướng dẫn về cách sinh hoạt và học hành. Trong các buổi học hành, các chiến hữu sẽ được hướng dẫn các vấn đề cần thiết về quân sự và chính trị, nhằm đào tạo mỗi kháng chiến quân thành những cán bộ võ trang tuyên vận trong Lực Lượng Võ Trang Kháng Chiến của Mặt Trận.

Cũng ngay sau buổi đón tiếp này, các chiến hữu cũng cần cải đổi mọi suy tư, vì chúng ta là những chiến sĩ trong đoàn quân cách mạng, chúng ta không là lính nhà nghề, lính chuyên nghiệp hay lính đánh thuê. Những tư tưởng ỷ lại, đòi hỏi quá mức, phải có cái này, phải có cái khác mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ, trong ngày một, ngày hai, phải loại bỏ ra khỏi tư tưởng của các chiến hữu. Mặt Trận minh định rằng, chỉ có một đòi hỏi duy nhất, một cái "Phải" duy nhất. Đó là phải góp sức để Giải Phóng Việt Nam.

Khẳng định rằng, chỉ có dân tộc chúng ta mới đủ tư cách và khả năng để giải phóng nước ta, mới xứng đáng để bảo vệ non sông gấm vóc của chúng ta. Trong tinh thần đó, chúng ta hãy cùng dâng lên Tổ Quốc, dâng lên các anh linh của dân tộc một lời nguyền son sắt là Giải Phóng Việt Nam.

Xin cảm ơn tất cả các chiến hữu.

Một buổi lễ chào mừng tân kháng chiến quân tại căn cứ 81

"Ngủ đi em, mai sáng lên đường
Ta theo quân về bên kia núi
Tháng năm
Qua hờn căm buồn tủi
Sẽ có ngày em biết yêu thương!
Bên kia là chiến trường
Khắp quê hương lửa dậy
Em sẽ thấy
Bừng con mắt cỏ cây đổi sắc
Người xuống đường giết giặc bằng tay
Ào ào một cuộc đổi thay
Bài ca dữ dội một ngày rền vang
Em ngủ đi
Ta thức khi trời sáng
Về bên kia, ta gặp lại xóm làng
Gặp những con người chân thép, tay gang
Mắt rực lửa
Vùng lên làm cách mạng
Hiên ngang
Giữa trời!
Để em thấy: cuộc đời là có thật
Để em thấy: tuổi thơ em vừa mất
Đánh đổi bằng tấc đất gang sông
Vọt máu trào lòng
Chảy thành giòng, bám chắc lấy quê hương
Nước bốc tình thương
Đất dậy linh hồn
Người và người
Đẩy dồn muôn ngọn sóng
Triệu thịt da:
Chung một nỗi ước mong
'Đất nước Việt Nam hoàn toàn giải phóng'
Em thấy không
Tim còn đập là còn sức sống
Tôi với em
Ta thổi ngọn lửa hồng
Nung sôi bầu máu đỏ
Tô lại nét Tiên Rồng...
Tuổi thơ em
Non sông cất giữ
Đừng phí đời nửa chữ yêu thương
Ngủ đi em
Mai sáng lên đường
Ta theo quân về bên kia núi"

(Võ Hoàng - Viết nhân cùng chiến hữu Lâm giao liên, qua đêm trên đường công tác)

---- oOo ----

Khóa Học Chân Truyền

(Trích đoạn từ một ký sự của KCQ Võ Hoàng)

"Ngày Đầu Khóa.

Điều mà tôi muốn nói tới trước tiên là sự kỳ vọng của Mặt Trận đối với anh em khóa sinh chúng tôi ở lớp học cán bộ quân chính này. Tôi không hề mắc cở khi phải tiết lộ rằng mình đã ứa nước mắt khi ngồi vào dãy bàn tre, trước mặt là một tập giấy thô, xám xịt, bìa mốc vàng và gáy được đóng bằng chỉ đen dùng để nốt-tê lời giảng. Tôi cũng không hề mắc cở khi phải tiết lộ rằng mình đã ứa nước mắt một lần nữa sau đó, khi được cho biết là khóa học do đích thân Thầy Chủ Tịch, linh hồn của công cuộc đấu tranh giải phóng tổ quốc, phụ trách toàn bộ chương trình huấn luyện.

Tôi đã quá rõ sự khó khăn, thiếu thốn của Mặt Trận trong hoàn cảnh hiện tại, tôi cũng đã rõ sự quan tâm của lãnh đạo đối với anh em kháng chiến quân chúng tôi, cũng như tôi đã rõ mối ưu tư của Thầy về vấn đề đào luyện cán bộ để đáp ứng nhu cầu đấu tranh cấp thiết ngày một lớn... tôi vẫn không dấu được sự xúc động của mình. Và hầu như cả vài chục khóa sinh, không ai dấu đuợc sự xúc động.

Như vậy là trong khung cảnh âm u mà hùng tráng của núi rừng chiến khu, trước những dãy bàn tre khập khiễng, rung rinh, mấy chục anh em chúng tôi thêm một lần nữa có dịp ngồi với nhau để cùng lãnh hội những vấn đề trọng yếu trong toàn bộ công cuộc đấu tranh giải phóng tổ quốc, và lần này, anh em chúng tôi được 'chân truyền'.

Đã có ba khóa học cùng một chương trình như vậy hoàn tất trước đó. Anh em chúng tôi biết rằng hầu hết những cán bộ Quân Chính cả ba khóa đều lần lượt rời chiến khu ra ngoài dân hoạt động, thành thử không hẹn mà mấy chục anh em khóa sinh khóa Bốn chúng tôi có chung một niềm vui: Sẽ một ngày không xa, chúng tôi được phép 'xuống núi'....

Đã có lần tôi viết cho một người bạn: 'Cái quan niệm đấu tranh, nó cũng giống như Thiền. Mình nhìn ra được, nhìn đúng được quan niệm đấu tranh, đâu có khác gì một anh thiền gia ngộ đạo...'. Nhưng ngày hôm nay, liếc sơ qua chương trình học của khóa Cán Bộ Quân Chính, tôi biết là mình chưa 'ngộ'.

Những ngày đầu tiên, nương theo con đường Đông Tiến vào chiến khu, tôi đã mang cái vẻ 'hí hửng' từ bên ngoài vào. Cái 'hí hửng' phát xuất từ những lần nghiền ngẫm Cương Lĩnh Chính Trị, phát xuất từ những khám phá cục bộ của đường lối đấu tranh. Tôi 'đụng' ngay một phát với các chiến hữu giao liên tại bờ một con suối lớn lúc dừng quân, để đủ biết rằng cái 'hí hửng' của mình là quá đáng. Tôi mang cái tâm trạng đó suốt khóa học Căn Bản Kháng Chiến Quân.

Con đường đấu tranh mênh mang nhưng thẳng băng. Vấn đề là làm thế nào để biết sắp xếp từ cái mênh mang đó thành thẳng tắp một hướng. Tôi nghĩ mình còn phải phấn đấu nhiều lắm.Và tôi đã cố gắng. Vậy mà nhìn lại chương trình học của khóa Cán Bộ Quân Chính thêm một lần nữa, tôi biết mình đang bị 'sốc'.

....

Ngày Cuối Khóa.

Khi mà những trang giấy xám mốc lần lượt đầy nhóc những chữ ghi vội lại những vấn đề mà ngày đầu khóa tôi cho là cũ rích, tôi biết ra, nó không cũ. Và tôi biết thêm, tôi còn phải được mổ xẻ những vấn đề đó tường tận nhiều hơn nữa.

Thầy đã gần như nhắc đi nhắc lại hàng ngày câu nói: 'Huấn luyện, học hành là công tác hàng đầu trong suốt tiến trình đấu tranh giải phóng và nó sẽ được tiếp tục trong suốt giai đoạn cách mạng dựng nước sau này'.

Chúng tôi học được những cái cốt lõi của những vấn đề cũ rích như vậy để nhìn thấy rằng những cái cốt lõi đó, hàng bao nhiêu năm nay, đã không có ai khai thác ra được hầu làm mới lại vấn đề. Với tôi, tôi cho đó là một môn học mà đáng lẽ ra mấy trăm năm nay, con người ta phải hệ thống hóa và xếp thành một phân khoa rõ rệt cho các trường đại học, gọi là Khoa học cách mạng hay Cách mạng học cũng được. Nó sẽ không ăn nhập gì tới những vấn đề của Kinh tế học, Xã hội học, hay Chính trị học... Bởi vì cái cốt lõi của nó gồm toàn những điều toàn Chân, toàn Thiện, toàn Mỹ. Nó phát sinh từ ước vọng muốn thay đổi một cái cũ xấu bằng một cái mới tốt. Hơn thế nữa, nó chứa đựng một kỹ thuật gọi là kỹ thuật đấu tranh giải phóng, sử dụng toàn bằng ý thức Nhân, Nghĩa, và Sức Mạnh Dân Tộc...

....

Có một chiến hữu cùng khóa nói với tôi mấy hôm trước, câu nói tôi rất chịu: 'Mình chủ trương... làm cách mạng là phải làm tận tâm, tận lực. Đi đấu tranh là phải thật dứt khoát, quyết liệt. Nè... yêu là phải yêu như Đoàn Dự, ma thì phải ma như Vi Tiểu Bảo, ngang thì phải ngang như Lệnh Hồ Xung, mà hào phóng thì phải hào phóng như Kiều Phong. Cách mạng là phải như vậy... đấu tranh là phải như vậy... như mình'.

Tôi rất chịu....

....

Điều tôi muốn được nói sau cùng là sự tiếc rẻ cho một vài chiến hữu cùng khóa, vì nhu cầu công tác bất ngờ và khẩn cấp, đã gởi lại lớp học những quyển vở vàng và quảy ba lô lên đường. Tôi không dám tiếc giùm cho các bạn tôi ở ngoài đó đã không có dịp ngồi trước những dãy bàn tre khập khiễng, rung rinh này mà tìm thấy một thái độ dứt khoát hơn.

Các bạn tôi chưa có dịp đó thôi...".

"Chim bay trên rừng còn nhớ lời ca
Ta đi trên rừng lòng nhớ thiết tha
Mắt mẹ già, tiếng đàn em
Bao nhiêu năm rồi giục ta tiến tới
Ai đun cơm chiều tỏa khói trời xanh
Thương dân ta nghèo lòng gắng bước nhanh
Sá chi buồn, tiếc gì vui.
Mau mau ta về diệt quân ác thú.

Hỡi người anh kháng chiến trên rừng
Áo đã mòn nhiều năm gió núi
Hỡi người anh kháng chiến của tôi
Tóc dầu phai nhưng chí không sờn
Thắm tình anh lúa chín thêm nhiều
Nhớ thương người mẹ may áo mới
Vẫn chờ mong cho sáng ngày vui
Quân về đây, cùng nhau ta đứng lên..."

(Nguyên Chương - Tình Ca Người Đi Núi)

Hình Ảnh Một Đoàn Viên Mặt Trận Ở Hải Ngoại

Họ ở mọi độ tuổi. Có người chưa kịp tốt nghiệp trung học, run tay cầm bài hát trong đoàn Văn Nghệ Kháng Chiến. Có người đã gần 80, lom khom cột bao rác đựng lon nhôm tiếp vận kháng chiến....

Họ ở mọi nơi có người Việt tỵ nạn cộng sản trên toàn thế giới. Từ vùng đất Na Uy-Đan Mạch mùa hè không thấy mặt trời lặn ở miền cực Bắc, cho tới miền đất ngược mùa Úc Đại Lợi–Tân Tây Lan ở cực nam địa cầu. Từ phố Bolsa nhộn nhịp ở miền Nam California, cho tới trại tỵ nạn Palawan chơ vơ lộng gió ở giữa Thái Bình Dương. Từ tiểu bang giá tuyết Minnesota đến vùng sa mạc Arizona....

Họ là công nhân xí nghiệp. Họ là luật sư. Họ là sinh viên. Họ là thợ ống khóa. Họ là bác sĩ (có nơi cả hai cha con đoàn viên đều là bác sĩ). Họ là thư ký văn phòng. Họ là nhạc sĩ. Họ là cựu giám đốc ngân hàng. Họ là chuyên viên điện toán có mấy bằng phát minh ở Mỹ. Họ là tiến sĩ nhiều ngành học khác nhau. Họ là nhà văn. Họ là nhạc sĩ. Họ là nhà buôn, nhà báo, nhà binh, nhà bếp. Họ là cựu tù cải tạo (có nơi cả ba anh em một nhà đều là cựu tù cải tạo). Họ là ca sĩ tài tử sau này biến thành chuyên nghiệp. Họ bán chợ trời. Họ lái taxi. Họ sửa ống nước. Họ là thợ tiện. Họ là y tá. Họ là nha sĩ. Họ là kỹ sư các ngành cơ khí, công chánh, điện và điện tử. Họ lái tàu đánh cua đánh cá ở Alaska. Họ là phi công cho hãng dầu khí Mã Lai. Họ là chủ nhà in. Họ dọn bàn rửa chén trong nhà hàng.... Đủ cả. Cả những người cao niên không làm một nghề gì.

Đoàn viên hải ngoại đi đấu tranh vận dụng...
Họ không chỉ là người Việt Nam. Họ là người bản xứ ở nơi người Việt tạm cư tỵ nạn và chưa hề qua Việt Nam lần nào.

Họ hăng hái như nhau, dù có người ngồi xe lăn, có người chống nạng và vẫn còn chống nạng xuống đường biểu tình rồi về nhà viết phóng sự cho tới 2007 này. Họ xông xáo khắp nơi, dù biểu tình dưới tuyết hay tuyệt thực trong mưa. Họ hào phóng tặng cà chua trứng thối cho Nguyễn Cơ Thạch, Phan Văn Khải... khiến hầu hết các phái đoàn Hà Nội công du phải chui cổng hậu (Phan Văn Khải đã từng xin dời buổi họp nửa giờ để... đi tắm, tẩy mùi mắm tôm).

... quảng bá báo Kháng Chiến, tài liệu tuyên vận
Họ tài hoa diễn kịch ngay giữa đường phố để tạo sự quan tâm cho người ngoại quốc. Họ thõng tay vào chợ, xuống đường, ra phố quảng bá báo Kháng Chiến. Họ nấu tiệc đám cưới, hớt tóc, đào bắt giun đất, hay rửa xe tập thể để lấy thù lao yểm trợ kháng chiến. Họ sắc bén phản luận trên các trang báo ngoại ngữ. Họ bán chả giò trong hội chợ của dân bản xứ. Họ hùng hồn tham luận trong Hội Nghị Phát Triển Á Châu tổ chức ở Nhật. Họ ung dung phản đối đến nơi đến chốn chương trình truyền hình PBS bóp méo lịch sử Việt Nam. Họ nhất quyết không để cho bất kỳ 1 lá cờ đỏ sao vàng nào lọt ra khỏi khuôn viên sứ quán của Hà Nội, ở bất kỳ thành phố nào trên thế giới. Họ bẻ gãy chiến dịch Hà Nội vận động Unessco vinh danh họ Hồ. Họ bao vây kinh tài Việt cộng. Họ tổ chức kỷ niệm 200 năm chiến thắng Đống Đa. Họ gặp Chủ tịch đảng Liberty tại quốc hội Úc.

... và xuống đường đấu tranh
Họ vận động chính phủ Pháp phong tỏa kinh tế Hà Nội. Họ tham dự Hội Nghị Truyền Thông Quốc Tế kỳ 4 tại Hán Thành. Họ nói chuyện với lãnh đạo đảng Dân Xã tại quốc hội Nhật Bản. Họ quy tụ 8.000 trại viên Sikiew chào cờ vinh danh ngày Quốc Kháng. Họ huy động 1.500 đồng bào bao vây sứ quán Hà Nội ở Bonn. Họ tổ chức những buổi đại nhạc hội tưng bừng yểm trợ kháng chiến ở Cali nắng ấm. Họ biểu tình tuần hành trên đường phố Halifax buốt lạnh của tỉnh Nova-Scotia hẻo lánh trên đất Canada để phản đối tội ác Việt cộng. Họ chia sẻ kinh nghiệm đấu tranh với Kháng Chiến A Phú Hãn. Họ vận động kéo cờ Vàng lên ngang cờ Phi trong trại Palawan, nhân buổi lễ cả trại chít khăn tang cùng thề quyết giải phóng Việt Nam. Họ bắt tay thân thiện với Mặt Trận Dân Chủ Nicaragua (SDN). Họ thành lập các Hội Thân Hữu Việt-Mỹ, Việt Pháp, Việt Nam-Thụy Sĩ.... Họ vào điều trần trong quốc hội Úc, quốc hội Mỹ. Họ trò chuyện với nghị sĩ Thuợng Viện Pháp. Họ tổ chức Đại Lễ Quốc Khánh cho người lớn. Họ trao giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật. Họ tổ chức Trung Thu cho trẻ em...

Họ học và thi tốt nghiệp các khóa học tập bắt buộc từng cấp: Lên Đường, Trên Đường Kháng Chiến, Vận Dụng cấp 1, Vận Dụng cấp 2.... Họ tham dự các khóa học thảo Phùng Tấn Hiệp, Chí Linh 1, Chí Linh 2... Họ học từ các bài nghị luận trên báo Kháng Chiến. Họ chia sẻ kinh nghiệm cho nhau qua điện thoại hay qua các kỳ Đại Hội Trưởng Cơ Sở. Họ thăm viếng thân hữu, bà con, và nói chuyện kháng chiến tại sở làm, ngoài tiệm ăn, trong nhà bếp....

Một số cán bộ nòng cốt của Mặt Trận ở hải ngoại đã gia nhập Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng từ những năm 83-86. Phần lớn gia nhập Việt Tân từ tháng 11-1993.

Họ đến với Mặt Trận với nhiều khả năng chuyên biệt của từng người.

Họ gặp nhau đây chỉ để cùng nhau trui rèn, trau dồi, thăng tiến, phát huy một khả năng duy nhất là: Vận động mọi người tham gia hay yểm trợ kháng chiến.

Một buổi văn nghệ yểm trợ kháng chiến tại hải ngoại
"Chiều nay đường phố thêm đông thêm màu
bởi có em trong chiếc áo nâu
em phát những tờ truyền đơn...
Em chào người mẹ đã già
mẹ ơi giặc chiếm quê ta
nhưng chúng con quyết tâm giành lại
giành lại quê cho mắt mẹ vui
giành lại quê cho môi mẹ cười, mẹ ơi.
Mẹ hân hoan nhìn em, nước mắt,
tờ truyền đơn mẹ áp vào lòng...
Mẹ thương anh kháng chiến quân.

Chiều nay đường phố thêm đông thêm màu
bởi có em trong chiếc áo nâu
em phát những tờ truyền đơn...
Em chào người chị xinh tươi
chị thật ngoan trong chiếc áo dài
chị ơi, có anh kháng chiến rừng xa
tình của anh tô má chị xinh
tình của anh nuôi tóc chị dài, chị ơi.
Chị hân hoan cùng em góp sức
tờ truyền đơn chị phát, chị truyền...
Chị thương anh kháng chiến quân.

Chiều nay đường phố thêm đông thêm màu
bởi có em trong chiếc áo nâu
em phát những tờ truyền đơn...
Tin mừng em chia cùng Mẹ
tin mừng em tỏ cùng Cha
chị ơi, có tin chiến thắng rừng xa
Em ước mơ ngày vui sẽ tới
có bước chân em đi hàng đầu
rước tình, rước tình chị về với anh"

(Nguyên Chương – Người Em Gái Áo Nâu)

---- oOo ----

Chính Nghĩa Trong Thực Tế

(Trích đoạn diễn từ bế mạc của chiến hữu Nguyễn Kim, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hải Ngoại,
trong Đại Hội Trưởng Cơ Sở Hải Ngoại 1986)

.... Nói tới sức mạnh chính nghĩa, nhiều người trong chúng ta vẫn chỉ cảm thấy lờ mờ, trừu tượng, vì sức mạnh chính nghĩa vô hình, không thể trông thấy hay cân đo được. Nhưng nếu hiểu thật rõ, chúng ta vẫn có thể cảm thấy cái sức mạnh vô hình đó và phát huy nó. Nghĩa là làm sao để biến cái sức mạnh vô hình thành sức mạnh thực tế, nhìn thấy được, đo lường được.

Chính nghĩa của đấu tranh là bất cứ điều gì hợp với nguyện vọng toàn dân, hợp với đạo lý con người. Còn ngược lại thì là những điều phi chính nghĩa.

Nguyện vọng của đồng bào hiện thời là gì? Nguyện vọng đó là có được một đời sống thanh bình, đủ cơm ăn áo mặc, được độc lập và tự do. Đạo lý làm người của chúng ta trong khuôn khổ đấu tranh hiện giờ là gì? Đó là khi chúng ta may mắn thoát khỏi ngục tù Việt cộng, có được đời sống no ấm tự do, chúng ta không thể quên được Tổ Quốc đang bị Liên Xô và bạo quyền Việt cộng dày xéo. Chúng ta không thể quên được những người bạn đã cùng sát cánh chiến đấu với chúng ta trước đây hiện đang bị ngược đãi, bị trả thù. Chúng ta không thể quên đồng bào hiện đang lầm than đau khổ. Chúng ta không thể quên được các chiến hữu hiện nay vẫn đang âm thầm chiến đấu cứu nước. Cuộc đấu tranh mà tất cả chúng ta đeo đuổi chính là để kiến tạo những nguyện vọng đó, chính là những việc hợp với đạo lý con người đó.

Và đó là chính nghĩa đấu tranh của chúng ta.

Muốn nhìn thấy chính nghĩa đã tạo nên sức mạnh thực tế như thế nào, tôi xin nêu ra một thí dụ điển hình mà đa số chúng ta ở đây đều biết: Năm ngoái, cách đây gần nửa năm, bảy anh em chúng ta ở hải ngoại đã về khu chiến tham dự Khóa Quyết Tâm. Khi trở ra, các chiến hữu của chúng ta đã đem theo mấy món quân trang mà các kháng chiến quân trong nước đang dùng dở dang. Nhiều người đã nhìn thấy những bộ quần áo thô kệch và rách rưới đó với một cảm tình. Cũng có người đã trìu mến nâng niu như một cái gì đó rất quý giá. Nếu nói về thuần lý vật chất thì mấy bộ đồ đó không có giá trị gì nhiều, có khi ở ngoại cũng khó lục kiếm từ mấy hàng quần áo cũ, hoặc không đủ tiêu chuẩn để làm khăn lau trong nhà. Nhưng tại sao chúng ta lại quý những bộ đồ đó? Tại sao ở hải ngoại có người vuốt ve những chiếc áo đó mà thấy xúc cảm bồi hồi? Tại vì, thưa các chiến hữu, những bộ đồ đó đang được sử dụng bởi những người chiến sĩ của chính nghĩa đang phục vụ cho chính nghĩa.

Những xúc cảm khi cầm trên tay bộ đồ đó khiến chúng ta phải nghĩ là không thể không bỏ ra chút thì giờ để làm một cái gì đó tiếp tay với họ. Không thể không nhín một chút phương tiện dư thừa hàng ngày để cho họ có được một bộ quần áo lành lặn hơn, có được bữa cơm no bụng hơn, có được nhiều phương tiện chiến đấu hơn.

Những cái 'lành lặn hơn', hoặc 'no bụng hơn', hoặc 'nhiều phương tiện chiến đấu hơn' đó chính là những thực tế gây sức mạnh có thể nhìn thấy được, đo đếm được. Điều gì đã tạo nên những cái 'hơn' đó nếu không phải là sức mạnh vô hình toát ra từ một bộ quần áo thô kệch? Và đó là tượng trưng cho chính nghĩa, cho sức mạnh của chính nghĩa.

....

Trong khuôn khổ hỏ hẹp hơn, chính tác phong nghiêm túc, tinh thần hy sinh, đức tính khiêm tốn... và chính quyết tâm cùng sự tận tụy của mỗi đoàn viên trong công tác cũng là những việc thực tiễn và cần thiết để phát huy chính nghĩa. Quảng đại quần chúng sẽ không thể nhìn thấy chính nghĩa ở những cán bộ thiếu tác phong, thiếu hy sinh và thiếu niềm tin. Mà khi người ta không nhìn thấy chính nghĩa thì làm sao người ta có thể tham gia cứu nước?....

"Chiều cuối năm rừng đầy hơi lạnh
Những đoàn quân đi lừng lững mà lên
Ngoài kia thôn xóm không củi lửa
Trong này rừng không lót lá êm
Cơn sốt rét cứ đòi vật người xuống
Những lừa đảo những phản phúc bên ngoài muốn vật người xuống
Nhưng người cứ đi, cứ lừng lững đi lên
Chiều cuối năm người đi ồn ào không lên tiếng
Chỉ lời hứa trong đầu
Chỉ tiếng hát trong tim
Ánh mắt nhìn nhau ngần đủ
Lửa đây rồi anh em ơi,
trong giòng máu này còn chảy,
trong tim này còn thắm
Lửa này làm sao lụi
Lửa này làm sao tàn?
Anh cho tôi tiếp lửa
Lửa từ Hùng Vương
Từ Trưng Triệu Hát Giang còn dậy sóng
Từ trường kỳ Nguyễn Trãi Lam Sơn
Từ cuồn cuộn quân đi hồi trống võ Quang Trung còn dồn dập
Những rừng, những thôn xóm mịt mù không ánh điện
Nhưng xin cho chúng tôi từ khước những ngọn đèn xanh
Vì rằng hôm nay ánh sáng, như bao giờ đã vẫn tràn về chói lọi
Từ những tim người về
Từ vạn vạn người đang đứng dậy
Chúng ta, những con người khí thế
Bám lấy rừng, lấy đồng lầy, lấy mạch máu cha ông
Phơi gan ruột vạch can trường vì đồng bào mà đi tới
Đừng nói với chúng tôi về những đồng đô-la,
những đồng quan, những hòm dân-tệ
Nuôi chúng tôi đã có sắn khoai
Và khí trời
Và lòng mẹ lòng em
Và lịch sử ngàn năm đấu tranh
Không hề biết sợ
Nói làm sao cho hết nghĩa tình?
Kể làm sao cho hết?
Trên đường dây tiếp tế hôm nay
Những em bé lên chín lên mười băng đồng lội suối
Mẹ gởi theo đây nắm gạo đầu mùa
Chưa vỡ cám
Lòng dân làng chân chất gởi theo thương
Người con trong Chí Linh hôm nay
Cầm trên tay hạt gạo nghẹn lời mắt long lanh nước mắt
Ôm vai em thơ, anh ngửa mặt nhìn trời:

'Trời hỡi, chứng đây Trời, hạt gạo
Chen cỏ hoang kinh tế mới mà lên
Ba trăm đêm
Ba trăm ngày
Tưới bằng mồ hôi
Máu và nước mắt
Nghĩa tình chị, mẹ nuôi con,
Em thơ vượt chết mà đi
Trời hỡi, đây hạt gạo mùa tang chế
Dân lành đất nước chúng tôi
Hạt gạo lép gầy thương khó
Là xương tủy con người
Là tròng đỏ con mắt
Tìm nhau
Nuôi nhau
Chiến đấu vẫn mỗi giờ mỗi khắc
Trong lòng mỗi thôn làng
Trong từng xóm ngõ
Không chờ ai, chẳng nương ai.
Đồng hoang khô cạn, bão tố triền miên
Quân cướp nước, phường chuyên chính
Ngọn đao, lưỡi liềm bổ xuống
Roi da vun vút vai lưng
Vẫn oằn cong người gánh chịu
Những anh những chị một lòng trung kiên
Bám lấy đất lấy núi sông chống lại.
Trời hỡi, đây hạt gạo trời cho mùa tai ương
Mười năm rồi đất nước chúng tôi
bọn thống trị một phường bạo chúa, a tòng phe đảng
Lấy chém giết làm vui
Lấy máu dân lành khoe chiến công dâng trùm chủ
Xác anh em chúng tôi đã đầy khắp nẻo
Theo những lao tù mọc lên như nấm đỏ
Từ Việt Bắc xuống Cà Mau
Trên Tây Nguyên xuống thành xuống phố
Đâu cũng tù, đâu cũng gông
Đâu cũng nhang tàn nước mắt
Mấy lứa thanh niên rồi thây phơi chiến địa
Chiến trường đi chẳng có người về
Đồng hoang chó đói tha xương
Người sống cắn đất mà ăn
Người chết hài cốt bị xới tung bị cày nát
Quí-thạch làm sao gánh
Chỉ xin Trời cho tôi ngậm trong miệng này
Để tiếp thu
Nguồn mạch núi sông
Công ơn cha mẹ
Cho tay thêm vững
Cho lòng thêm lớn'.

Trời xanh cao vút
Rừng già mênh mông
Anh kháng chiến quân cúi đầu
Hôn lên trán người em mới gặp
Tóc tơ vàng khét nắng:

'Em ơi đi về cẩn trọng
Tổ tiên phù hộ chân em
Tổ tiên phò trợ mắt em
Về thưa cùng mẹ thưa cùng chị
Lòng các anh no ấm lắm rồi
Ân nghĩa ấy gan ruột này có phơi
Cũng không đền đáp đủ;
Cảm ơn em,
Chuyện tương lai sớm gánh đỡ vai non
Em làm anh tủi quá'.

Đứa em đi rồi, đôi chân thơ thoăn thoắt
Người kháng chiến quân mặt đằm nước mắt nhìn theo
Anh chắp hai tay xin với anh linh
Những đồng đội mình ngã xuống hôm qua
Sao cho em đi
Đừng mắc hầm chông
Đừng sa mìn bẫy:

'Chân em là chân chim
Xin được bay trời rộng lớn
Tuổi em là hoa hường
Xin đừng vào nanh lũ sói
Anh ơi về đây làm chứng
Tình nghĩa mẹ cha
Lòng thương em út
Hạt gạo này ăn sao cho đành ngoài kia triệu người chết đói
Hãy giữ đây cho ngày mai
Khi qua buôn làng
Ta gởi người ốm bệnh
Sống được thêm đôi ngày
Anh em ơi
Cái chết anh em mình chỉ mong chừng ấy chuyện:
Ta chết đi cho những đứa em mình được sống
Ta ngã xuống đây cho đất nước mình đứng dậy mà đi
Đi ngẩng mặt nhìn trời
Đi tự do hào phóng
Đi vòi vọi yêu thương
Đi rùng rùng đảm lược
Anh em ơi, nay chiều cuối năm, mai ngày Tết
Hương hồn xin về quây quần
Ánh lửa tình thân
Anh linh dân tộc'.

Người kháng chiến quân đứng thẳng
giữa muôn tiếng chân người về
Lửa vừa lên giữa tim rừng ngùn ngụt"

(Thường Quán - Lửa Vừa Lên Giữa Tim Rừng Ngùn Ngụt)

Những Hy Sinh...

Gậy Nào Lưng Đó

Các đài phát thanh BBC, Hà Nội; Thông tấn xã AFP; các nhật báo lớn trên thế giới: Los Angeles Times, Orange County Register, San Francisco Chronicle, Yomiuri, Sankei...; và hầu hết báo chí Việt ngữ tại hải ngoại đều loan tin ông Võ Đại Tôn bị CSVN bắt giam và đưa ra cuộc họp báo ngày 13-7-1982 tại Hà Nội. CSVN đã mời 10 đại diện các hãng thông tấn quốc tế có văn phòng tại Bangkok, một số ngoại giao đoàn các nước tại Hà Nội, và khoảng 200 ký giả báo chí trong nước đến dự.

Ông Võ Đại Tôn
Ông Võ Đại Tôn là một cựu Trung tá QLVNCH, cựu nhân viên bộ Thông tin Chiêu hồi VNCH, rời nước đi tỵ nạn CS và định cư tại Úc với vợ và con. Năm 1980, ông đã nỗ lực vận động thành lập và lãnh đạo Chí Nguyện Đoàn Hải Ngoại Phục Quốc để đưa người về bắt liên lạc với kháng chiến quân Việt Nam ở quốc nội. Ông rời Úc hai lần để về nước. Lần đầu vào tháng 4-1981, nhưng không thành công. Lần thứ nhì vào tháng 9-1981, nhưng bị Lào cộng vây bắt sau những cuộc đụng độ. Hà Nội đã dấu nhẹm tin tức ông bị bắt. Nay, CSVN muốn trình diễn một màn tố giác Mỹ-TQ và Thái Lan đã thông đồng hỗ trợ cho lực lượng kháng chiến Việt Nam "đưa những phần tử phá hoại thâm nhập vào Việt Nam".

Cuộc họp báo đã làm tái mặt Hà Nội khi ông Tôn cương quyết phủ nhận mọi lời cáo buộc đã được in sẵn ra giấy và phân phát cho ký giả gọi là bản thú tội của ông Tôn và được coi như bằng chứng cụ thể để ghép tội thông đồng cho 3 chính phủ kể trên.

Ngay sau phần giới thiệu, ông Võ Đại Tôn khẳng định: "Trong cái kế hoạch dự mưu xâm nhập về Việt Nam, tôi là Chỉ huy trưởng của Chí Nguyện Đoàn Hải Ngoại Phục Quốc Việt Nam. Tôi chủ động trong mọi việc". Có nghĩa là chẳng do nước nào thông đồng xúi giục. Do bởi Việt cộng không cho phép ông trình bày bằng Anh ngữ, nên ông cũng đã yêu cầu những thông dịch viên "vì lương tâm của người trí thức, xin thông dịch đầy đủ".

Cuộc họp báo lại đột nhiên bị chấm dứt khi ông Võ Đại Tôn dõng dạc tuyên bố: "Tôi tiếp tục duy trì vị thế chính trị của tôi về sự tự do và giải phóng... Tôi sẵn sàng để nhận lấy mọi sự phán quyết dành cho tôi". CS Hà Nội đã đẩy ông ra ngoài phòng họp, không cho ông nói thêm gì nữa.

Dù ngắn ngủi, nội dung cuộc họp báo cũng đã được bà con Việt Nam đón nhận bằng sự xúc động tột cùng vì qua đó, chiến sĩ Võ Đại Tôn đã chuyên chở được 4 thông điệp:
  1. Đối với đồng bào trong nước: Người Việt hải ngoại không bao giờ quên sứ mạng giải phóng dân tộc.
  2. Đối với đồng bào hải ngoại: Nói là làm. Hãy đoàn kết. Hãy biến ý thức và khát vọng thành hành động cụ thể. Hãy tích cực hỗ trợ các lực lượng kháng chiến.
  3. Đối với dư luận thế giới: Người Việt Nam không di tản vì lý do kinh tế. Người Việt Nam vẫn tiếp tục đấu tranh cho tự do dân chủ.
  4. Đối với truyền thông Việt ngữ: Việc loan tải tin tức về các nỗ lực đấu tranh cần phải luôn đề cao tính bảo mật và tính tích cực.
Nhiều Ủy Ban Nêu Cao Tinh Thần Võ Đại Tôn đã ra đời, đẩy mạnh các nỗ lực: a) Xiển dương tinh thần quả cảm và hy sinh của chiến hữu Võ Đại Tôn và các chiến hữu về nước hoạt động; b) Vận động áp lực để bạo quyền Việt cộng phải đối xử với chiến hữu Võ Đại Tôn theo đúng nguyên tắc quốc tế về tù binh chiến tranh; c) Ủy lạo gia đình các chiến hữu sa cơ.

Bà Hoàng Cơ Minh đã gửi đến Bà Võ Đại Tôn một lá thư thăm hỏi trong sự cảm thông cao độ và sự an ủi chân tình của một người trong cùng hoàn cảnh có chồng về nước chiến đấu.

Bản tin trên nhật báo Los Angeles Times, ngày 13-7-1982, tường trình về cuộc họp báo này, đã ghi tựa đề là "Gậy Ông Đập Lưng Ông". Báo Mỹ vẫn chưa hiểu người Việt. Ít nhất là chưa hiểu cách xưng hô của người Việt.

Những Nguyễn Thái Học Thời Nay

8 giờ sáng ngày thứ Sáu 14-12-1984, hai mươi mốt chiến sĩ quốc gia chống cộng đã hiên ngang bước ra trước cái gọi là "toà án nhân dân" tại Sài Gòn mà bạo quyền đã dựng lên để kết án những người Việt Nam yêu nước anh dũng đứng lên chống lại chế độ phi nhân của chúng.

Ngày 18-12-1984, Hà Nội tuyên án tử hình 5 người, chung thân khổ sai 3 người, phạt tù 13 người còn lại từ 8 đến 20 năm.

Buổi chiều cùng ngày, hãng thông tấn Pháp AFP cho biết chính phủ Pháp vừa gửi một công hàm phản kháng Hà Nội đã bắt giữ và kết án những người mang quốc tịch Pháp trong vụ án mệnh danh là "xử tội những người lãnh đạo tổ chức kháng chiến tại Việt Nam". Đích thân Thủ tướng Pháp Fabius và Ngoại trưởng Pháp Dumas viết thư can thiệp gửi Hà Nội.

Ngay tối hôm đó, hầu hết người Việt tỵ nạn trên toàn thế giới đều có phản ứng tức khắc. Những hội đoàn, những ban đại diện cộng đồng đã triệu tập những phiên họp khẩn cấp, viết kháng thư gửi về Hà Nội và các thỉnh nguyện thư gửi đến nguyên thủ các quốc gia có ảnh hưởng lên nhà cầm quyền Hà Nội, gửi Đức Giáo Hoàng và các vị lãnh đạo tôn giáo để xin can thiệp. Sau đó là những buổi lễ cầu an cho các chiến sĩ sa cơ.

Ngày 5-1-1985, Hà Nội loan báo giảm án tử hình xuống chung thân khổ sai cho 2 người.

Anh Trần Văn Bá
Ba chiến sĩ quốc gia Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân và Hồ Thái Bạch đã anh dũng hy sinh đền nợ nước.

Hành động man rợ phi nhân của bạo quyền Việt cộng đã một lần nữa phơi bày thêm một bằng chứng hiển nhiên trước dư luận quốc tế. Riêng đối với đồng bào Việt Nam ở hải ngoại, nỗi đau xót và lòng căm phẫn đã lên tới cực điểm. Mọi sinh hoạt cộng đồng đều hướng về việc vinh danh những anh hùng vừa mới dâng hiến cuộc đời cho lý tưởng giải phóng quê hương. Lễ phát tang và truy điệu được cử hành tại nhiều thành phố trên thế giới trong một không khí bi phẫn, gây sự xúc động mãnh liệt cho các quan sát viên và phóng viên báo chí quốc tế.

Bí thư trung ương đảng Xã Hội Pháp Jacques Huntzinger, trên báo Libération 17-1-1985, đã nhận định rằng: "Việt Nam là xứ cộng sản tàn bạo nhất". Ông nhấn mạnh rằng: "Hãy thôi sống trên huyền thoại của CSVN mà phải nhìn vào thực tế". Theo ông: "Ngày nay, tương ứng với dân số, Việt Nam là quốc gia giam giữ nhiều tù nhân chính trị nhất thế giới, đó là chưa kể tới những vụ đàn áp tôn giáo, cưỡng bách tập thể hóa ruộng đất ở miền Nam, và chính sách xâm lăng Cambodge". Triết gia Jean Marie Benoist đã tham dự cuộc biểu tình đối kháng tại Paris để kêu gọi "Thế giới hãy can đảm hậu thuẫn cho Kháng Chiến Việt Nam".

Một tuyên ngôn của Cộng Đồng Người Việt tại Âu Châu đã được gửi đến các cơ quan truyền thông quốc tế, nói lên lòng căm phẫn của người Việt Nam đối với hành động khát máu của bạo quyền Việt cộng, và xác định quyết tâm của người Việt Nam đối với công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước. Sứ quán Việt cộng tại Pháp phải cầu cứu cảnh sát Pháp tới bảo vệ. Chính phủ Pháp thông báo hủy bỏ việc đón tiếp Nguyễn Thị Bình theo chương trình đã dự trù trước đó.

Máu của người quốc gia yêu nước lại thấm đất quê hương. Lòng căm phẫn của những người còn lại càng xác quyết với nhau lời thề giải phóng Tổ Quốc và đồng bào ra khỏi bàn tay thống trị của bọn cộng sản phi nhân.

---- oOo ----

Phát Biểu Của Chiến Hữu Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hải Ngoại Nguyễn Kim Trong Buổi Tiếp Xúc Với Đại Diện Giới Truyền Thông Ngày 28-7-2001 Tại San Jose, Bắc California

Kính thưa quý vị,

Trong 21 năm qua kể từ ngày thành lập, Mặt Trận đã trải qua nhiều đoạn đường đấu tranh vô cùng cam go; trong đó sự hy sinh mất mát của một số chiến hữu lãnh đạo và một số đoàn viên ưu tú của Mặt Trận trong giai đoạn khởi đầu công cuộc kháng chiến vào thập niên 80, đã làm suy giảm tiềm lực của Mặt Trận mà chúng tôi đã cần nhiều thời gian để gầy dựng lại.

Chiến hữu Hoàng Cơ Minh, Chủ tịch Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam đã hy sinh vào ngày 28 tháng 8 năm 1987 tại Nam Lào. Trong vụ đụng độ tại Nam Lào vào năm 1987, ngoài chiến hữu Hoàng Cơ Minh, Mặt Trận còn mất một số chiến hữu lãnh đạo khác như chiến hữu Trần Thiện Khải, Chiến hữu Võ Hoàng và một số Kháng Chiến Quân.

Riêng về chiến hữu Lê Hồng, Tư Lệnh Lực Lượng Võ Trang Kháng Chiến đã qua đời vào ngày 1 tháng 5 năm 1985, sau một cơn bạo bệnh tại khu chiến.

Kính thưa quý vị,

Trong số những chiến hữu lãnh đạo của Mặt Trận đã hy sinh, vụ đụng độ tại Nam Lào dẫn đến sự hy sinh của chiến hữu Chủ tịch Mặt Trận vào năm 1987 đã đặt Mặt Trận ở vào hoàn cảnh không thể công bố ngay mà phải giữ kín cho đến nay. Chúng tôi xin chia xẻ đến quý vị một vài lý do như sau:

Thứ nhất là từ năm 1985, Mặt Trận đã tiến hành kế hoạch nhằm mở rộng các an toàn khu tại quốc nội, phát triển hệ thống Ủy Ban Kháng Quản và tìm cách đưa một số chiến hữu lãnh đạo vào sâu trong nội địa Việt Nam. Nhiều chuyến xâm nhập đã được Mặt Trận tiến hành từ năm 1983 và đến giữa tháng 7 năm 1987, chiến hữu Hoàng Cơ Minh quyết định dẫn một đoàn Kháng Chiến Quân băng qua lãnh thổ Lào trở về Việt Nam để hoàn chỉnh cơ cấu chỉ đạo và vận hành các cơ sở đã phát triển được. Trong thời gian đầu của chuyến đi, đoàn quân đã không gặp nhiều khó khăn dù có xảy ra một vài trận giao tranh với lực lượng Lào cộng và Việt cộng trú đóng trên đất Lào. Nhưng bắt đầu từ tuần lễ đầu tháng 8, khi đoàn quân tiến gần đến biên giới Lào Viêt, nằm về phía Đông của tỉnh Attopeu thì bắt đầu đụng độ khá nặng với lực lượng biên phòng của Việt cộng. Trong những trận đụng độ này, một số Kháng Chiến Quân bị bắt; do sự cung khai của một vài Kháng Chiến Quân, Việt cộng biết được sự hiện diện của chiến hữu Hoàng Cơ Minh trong đoàn quân, nên Việt cộng đã tăng cường viện binh để bủa vây với âm mưu là bắt sống chiến hữu Hoàng Cơ Minh. Sau nhiều ngày chiến đấu ác liệt, nhiều Kháng Chiến Quân bị hy sinh và chiến hữu Hoàng Cơ Minh đã bị thương. Đến ngày 27 tháng 8, đoàn quân có chiến hữu Chủ Tịch bị vây trên một ngọn đồi.

Tất cả các Kháng Chiến Quân đã chiến đấu anh dũng nhưng đến rạng sáng ngày 28 tháng 8 thì phòng tuyến bị vỡ, thêm nhiều Kháng Chiến Quân bị hy sinh và bị bắt, nhưng cũng có những Kháng Chiến Quân thoát được về các an toàn khu của Mặt Trận trong nội địa. Nhưng những Kháng Chiến Quân chạy thoát này đã không báo cáo thống nhất về tính mệnh của chiến hữu Hoàng Cơ Minh. Trước những dữ kiện không rõ này, Trung Ương Mặt Trận đã ra lệnh cho các cơ sở tại quốc nội nỗ lực tìm kiếm tung tích của chiến hữu Hoàng Cơ Minh và các chiến hữu lãnh đạo khác đi trong đoàn này. Tuy nhiên từ sau vụ đụng độ tại Nam Lào, Việt cộng tăng cường kiểm soát gay gắt nên sự di chuyển tìm kiếm tại khu vực giao tranh vô cùng khó khăn, đặc biệt là những dữ kiện thu thập trong thời gian này rất mù mờ, không đủ bằng chứng xác thực là chiến hữu Hoàng Cơ Minh còn sống hay đã hy sinh.

Hai tuần sau khi trận đụng độ xảy ra, đài phát thanh Lào Cộng loan một bản tin ngắn về vụ Nam Lào nhưng không nói chi tiết. Mãi đến ngày 1 tháng 12 năm 1987, Việt cộng mới thổi phồng vụ Nam Lào bằng việc đưa một số Kháng Chiến Quân của Mặt Trận ra tòa và nói đó là những người bị bắt trong vụ Nam Lào. Việt cộng đã mở chiến dịch tuyên truyền rầm rộ vụ Nam Lào như một chiến thắng to lớn là đã tiêu diệt toàn bộ lãnh đạo Mặt Trận, trong đó có chiến hữu Hoàng Cơ Minh. Đòn tuyên truyền này của Việt cộng nhằm gây hoang mang trong đồng bào và tiêu diệt tinh thần đấu tranh của các Kháng Chiến Quân trong nước và đoàn viên Mặt Trận ở hải ngoại. Điều cần nói thêm là trong thời gian này, Mặt Trận vẫn tiếp tục kế hoạch bành trướng hoạt động tại Việt Nam, với những đoàn Kháng Chiến Quân xâm nhập nội địa, với những nỗ lực mở rộng các an toàn khu và các hệ thống Ủy Ban Kháng Quản. Vì thế, đứng trước nguồn tin của Việt cộng, Mặt Trận phải chọn một trong ba quyết định: Một là im lặng; Hai là thừa nhận; và ba là phủ nhận.

Sự im lặng không bình luận của Mặt Trận trước nguồn tin quan trọng về người lãnh đạo cao nhất chỉ kéo dài tình trạng hoang mang và không đủ để hàng ngũ đoàn viên của Mặt Trận an tâm, tập trung vào những công tác đấu tranh lúc bấy giờ, cho dù đã được chuẩn bị tinh thần chấp nhận mọi hy sinh. Sự hoang mang sẽ gây ra những bất lợi và những tổn thất mới trong hàng ngũ đấu tranh, nhất là tại quốc nội.

Mặt Trận cũng không thể thừa nhận nguồn tin của Việt cộng khi vào thời điểm đó vẫn chưa có đủ bằng chứng để khẳng định là chiến hữu Hoàng Cơ Minh đã hy sinh.

Do đó, Trung ương Mặt Trận nhận thấy ưu tiên trước mắt là bảo vệ cơ sở và tiếp tục đấu tranh, nên đã ra lệnh cho Tổng Vụ Hải Ngoại của Mặt Trận lên tiếng phủ nhận nguồn tin của Việt cộng, trong khi đó, ở quốc nội vẫn tiếp tục công việc tìm kiếm tung tích của chiến hữu Hoàng Cơ Minh.

Thứ hai là vụ đụng độ tại Nam Lào đã gây cho Mặt Trận một số thiệt hại đáng kể mà quan trọng nhất là một số chiến hữu lãnh đạo đã hy sinh, khiến kế hoạch hoàn chỉnh cơ cấu chỉ đạo và kiện toàn các cơ sở bị ngưng trệ. Chính vì vậy mà ưu tiên của Mặt Trận vào lúc đó là phải dồn nhiều thời giờ cho việc bảo vệ cơ sở và gầy dựng lại bộ phận lãnh đạo để tiếp tục đấu tranh đường dài. Do đó mà dù sau một thời gian kiểm chứng, Mặt Trận đã xác định được chiến hữu Hoàng Cơ Minh đã tự sát trên chiến trường vào rạng sáng ngày 28 tháng 8 năm 1987; nhưng Trung ương Mặt Trận vẫn tiếp tục quyết định giữ kín tin tức về sự hy sinh này để dồn nỗ lực kiện toàn và phát triển.

Thứ ba là việc giữ kín tin tức hy sinh này cũng là để đánh lạc hướng bạo quyền Việt cộng. Chính vì Mặt Trận khẳng định là chiến hữu Hoàng Cơ Minh vẫn bình an tiếp tục lãnh đạo công cuộc đấu tranh nên đã khiến cho Việt cộng đâm ra nghi ngờ về kết quả của trận đánh Nam Lào. Trong nhiều năm liên tiếp sau năm 1987, Việt cộng vẫn tiếp tục tra hỏi các đoàn viên Mặt Trận và KCQ bị bắt về tung tích của chiến hữu Hoàng Cơ Minh, thăm dò chính quyền Thái về chiến hữu Hoàng Cơ Minh. Ngày hôm nay, sau nhiều năm nỗ lực củng cố và phát triển, Mặt Trận thấy việc công bố những tổn thất của Mặt Trận, nhất là sự hy sinh của một số chiến hữu lãnh đạo, không còn là yếu tố gây khó khăn cho Mặt Trận trong việc bảo vệ nội lực của tổ chức để tiến hành công cuộc đấu tranh nữa.

Bên cạnh ba lý do vừa đề cập, việc công bố cũng còn bị ràng buộc bởi yếu tố gia đình của một số chiến hữu lãnh đạo vẫn muốn hình ảnh các người thân của mình luôn luôn gắn liền với công cuộc đấu tranh hoặc không muốn tiết lộ sự hy sinh trong lúc cuộc đấu tranh vẫn còn tiếp tục hoặc liên lụy đến các thân nhân còn đang sống tại Việt Nam.

Nói tóm lại, thưa quý vị, vì không thể kiểm chứng một cách mau chóng những dữ kiện liên quan đến sự hy sinh của chiến hữu Hoàng Cơ Minh và vì muốn kiện toàn được cơ cấu lãnh đạo và cơ sở cả trong lẫn ngoài nước để có thể đối phó với một kẻ thù hung hiểm như bạo quyền Việt cộng, nên Mặt Trận đã không thể công khai hóa sự hy sinh của chiến hữu Hoàng Cơ Minh và một số chiến hữu lãnh đạo khác sớm hơn.

Tuy với những lý do liên hệ đến sự mất còn của tổ chức trong hoàn cảnh nghiệt ngã vừa qua, Mặt Trận tự thấy có trách nhiệm trong việc này và xin tạ lỗi với quý thân hữu, đồng bào, đồng thời kêu gọi sự cảm thông của quý vị, về những khó khăn của Mặt Trận trong thời gian qua....


Lễ truy điệu chiến hữu Hoàng Cơ Minh và các kháng chiến quân Đông Tiến năm 2001 tại San Jose (hình trên) và Orange County (hình dưới)



"Gặp bước cùng đồ, ôm tấm đan tâm với Tổ Quốc giang sơn,
bậc dũng tướng quyết giữ tròn tiết tháo;
Lâm vòng tuyệt địa, mang khối trung hưng cùng Quê hương Dân tộc,
kháng chiến quân nào quản ngại xả thân.
Người người kiêu hùng tuẫn tiết;
Lớp lớp dũng cảm hy sinh.
Tiếng dũng trung sững sờ vang dội;
Giòng nhiệt huyết cuồn cuộn loang tràn.
Đất trời u uất;
Rừng núi sầu than.
Hồn dũng tướng đêm ngày ào ào gió thổi;
Phách chiến quân năm tháng dõi dõi sương lan.
Mệnh kia, ôi, dẫu trải sương khuya, gió sớm;
Danh nọ, chừ, đã rung cỏ nội, cây ngàn.
Tên lưu hậu thế;
Tuổi gửi sử vàng."

(Nguyễn Lộng Sơn - Tưởng Niệm)

Anh hùng tử - Khí hùng bất tử.

Đâu đây như vẫn còn những cơn gió thất thanh đứng lặng.
Đâu đây như vẫn còn rì rào tiếng lá rừng chưa hết cơn run.
Đâu đây như vẫn còn chói chang một ánh chớp xuyên đồi xẻ núi.
Đâu đây như vẫn còn vang vang huấn từ của người anh cả mở đường về nước:

"Con đường Kháng Chiến chúng ta đi có hai cái đích.
Cả hai cái đích đều vô cùng vinh quang và ý nghĩa.
Một là giải phóng Tổ Quốc Việt Nam.
Hai là được anh dũng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng Tổ Quốc".
Bán Kiên Hồ Thỉ Nam Thiên Phục
Bội Phiến Can Trường Việt Địa Hưng

Nửa vai cung tiễn nhẹ sao,
Việt Nam quang phục, biết bao can trường.

"Cách mạng đường dài
Người đi như con nước miệt mài
Đổ mồ hôi thành giòng
Loang theo bước chân vạch những con đường làm nên chiến thắng
Ta đi. Ta đi. Tay giăng tay bên trời hừng say gió nắng
Bừng bừng cao ngọn lửa chói lòa
Thế kỷ này, thế kỷ của chúng ta
Đất dậy tình người
Bàn chân ta đi tới vượt trời
Dựng lại bao cuộc đời
Bao nhiêu tháng năm đau xót tủi hờn giờ đây đã hết
Ta đi. Ta đi. Tay bên tay ngang trời ngày vui sẽ tới
Nào cùng xây dựng lại nước nhà
Thế kỷ này, thế kỷ của chúng ta
Nước tràn lòng người
Triệu dân ta vui sống một đời
Người người mang nụ cười
Trên đê trẻ thơ ca hát vang chào ngày vui đã tới
Ta đi. Ta đi. Tay trong tay ôm trời Việt Nam yêu dấu
Hòa mình trong loài người thái hòa
Thế kỷ này, thế kỷ của chúng ta"

(Võ Hoàng - Thế Kỷ Này Thế Kỷ Của Chúng Ta)

Có người nhắn nhủ:

"Ngồi được thì không nằm.
Đứng được thì không ngồi.
Đi được thì không đứng"

Các anh đã đứng lên từ dáng vóc buông xuôi của hai miền dân tộc.
Các anh đã đi tới với hào khí bừng bừng của những dũng sĩ quyết phá ngục đập tù .
Các anh đã tràn về thành ngọn triều đối kháng cho tuổi trẻ Việt Nam nở hoa.
Đường các anh về đã trải rộng ra cho nhiều nỗ lực mới.
Từ sau chiến tranh lạnh thế giới cho tới hậu cộng sản Việt Nam....

"Dù con tạo đành hanh quá đỗi;
Dẫu thế cuộc khắc nghiệt vô vàn.
Đường lối đấu tranh, với toàn diện đấu tranh,
vẫn chói lọi, ngời ngời đất Việt.
Chủ trương kháng chiến, cùng toàn dân kháng chiến,
luôn sừng sững, lồng lộng trời Nam.
Thù nghịch nọ: phục thù, thề chung lưng đấu sức;
Tội ác kia: hạch tội, quyết vững chí, bền gan.
Thương đau, quyết biến thương đau
thành khối sinh khí cách mạng đấu tranh tổng lực;
Mất mát, thề chuyển mất mát
thành nguồn gia tăng quyết tâm giải phóng Việt Nam.
Niềm tin thắp sáng; Tuổi trẻ lên đàng.
Vẫn cứng, chân kia tiến tới; Phải mềm, đá nọ lún tan.
Để núi sông hôm nay trong ngoài quang phục;
Cho đất nước ngày mai Dân tộc canh tân.
Giải phóng Việt Nam: trẻ già chen vai, quyết chí;
Canh tân Tổ quốc: nam nữ sát cánh, đồng tâm.
Việt Nam: giải phóng! Tổ quốc: canh tân!
Việt Nam: giải phóng! Tổ quốc: canh tân!
Việt Nam: giải phóng! Tổ quốc: canh tân!"

(Nguyễn Lộng Sơn - Tưởng Niệm)

Rõ ràng: Chết là thể xác – Còn là tinh anh

Tinh anh đó, là niềm tin mãnh liệt về một tương lai Việt Nam tươi sáng không cộng sản.

Tinh anh đó, là lòng tự hào dân tộc về tính bất khuất, kiên cường nhưng hiếu hòa, cầu tiến.

Tinh anh đó, là khát vọng canh tân cho dân tộc thăng hoa và đất nước cất cánh.

Tinh anh đó, là những ý niệm hoàn toàn mới về một tiến trình đấu tranh tự trọng và tự tin.

Tinh anh đó, là ý chí quyết tiến của những hậu duệ đã có sẵn một bệ phóng đấu tranh.

Tinh anh đó, là một ngọn triều dấn thân của những mầm tươi nay đã đơm hoa kết trái.

Tinh anh đó, là một con đường thênh thang cho cả nước bước tới.

Tinh anh đó, cô đọng lại, như trống động, như chiêng khua, vẫn còn vang tiếng hịch:

Toàn Dân Kháng Chiến, Toàn Diện Đấu Tranh

Xã tắc ngả nghiêng; Sơn hà sụp đổ.
Hận lũ vong nô; Căm loài cộng đỏ.
Lập bè kết đảng, Minh-Duẩn uốn gối đi làm đầy tớ ngoại bang;
Phản nước hại dân, Chinh-Đồng rước voi về dày mả tổ.
Triền miên xứ xứ, non nước tràn ngập điêu linh;
Đằng đẵng năm năm dân gian ngập chìm thống khổ.
Gông cùm bạo ngược, sông núi thảm sầu;
Tội ác dã man, đất trời phẫn nộ.
Nọ, Pleiku, Phú Bổn, già trẻ kinh hoàng lấn xô lớp lớp,
xối xả đạn bay;
Kia, Tuy Hòa, Nha Trang, da thịt nát tan rải rác tầng tầng,
ầm ầm súng nổ.
Núi chất xương rơi; Sông tràn máu đổ.
Lang sói nhảy nhót hả hê; Phệ ưng múa cười man rợ.
Mùi tử khí còn bay nồng nặc, chốn biển đông chen chúc,
người níu người lênh đênh tránh lũ yêu tinh;
Vẻ tóc tang chưa hết nhạt nhòa, nơi núi thẳm tập trung,
tay trói tay giam cầm giữa loài quỷ đỏ.
Mươi ngày một tháng, biền biệt tăm hơi;
Năm trại bảy khu, mịt mờ ngách ngõ.
Cải tạo ngục tù; Giết tra khủng bố.
Lao động khốn cùng; Uống ăn đói khổ.
Kiếp đọa đày nào chỉ một thân;
Ách hung tàn lại càng lắm nợ.
Cửa nát, nhà tan; Mẹ lìa, con đợ.
Bao nỗi đoạn trường; Xiết cơn tủi hổ.
Cũng giống da vàng! Đâu nòi máu đỏ?
Công bằng xã hội: giữa nơi bạch nhật,
một bầy quỹ dữ ngang ngược hoành hành;
Ưu việt thiên đường: ngay chốn thanh thiên,
cả đám sa tăng điên cuồng cướp bố.
Tra khảo bạc vàng; Thu biên nhà phố.
Chiếm cứ mỗi đứa mỗi căn;
Giành chia mỗi thằng mỗi bó.
Kinh tế mới một sáng hãi hùng;
Doanh thuơng cũ nửa đêm uất nộ.
Túm đầu; Kéo cổ.
Tống khỏi cửa nhà; Lùa lên rừng rú.
Cuối hẽm, đầu đường; Ven lề, góc phố.
Kinh tế về che túp lều xiêu;
Doanh thương ra chống phên liếp đổ.
Đoạn tháng qua ngày; Ngậm hờn nuốt ố.
Kiếp sống nhục nhằn; Cuộc đời nhem nhọ.
Tự chủ, tự do; Kẹp đầu, kẹp cổ!
Ly hương! Xuống hố!
Mênh mông biển cả, người người đi vào cõi chết:
Giật lại tự do;
Thăm thẳm rừng sâu, kẻ kẻ chấp nhận hiểm nguy:
Tìm về sinh lộ.
Tránh lũ vô thần uống máu, hôi tanh;
Xa bầy ác quỷ ăn gan, khả ố.
Chúng đẩy đất nước xuống hố điêu tàn;
Chúng lùa nhân dân vào cơn bão tố.
Dân đen; Con đỏ.
Súng dãi, bom dầm; Băng vây, tuyết phủ.
Năm năm tháng tháng, nam nữ phơi xương đỡ đạn: mát mặt sài lang;
Chốn chốn nơi nơi, trẻ già đổ máu trả công: đẹp lòng bảo hộ.
Mảnh hồn oan vật vờ theo gió cuốn, mây bay;
Tấm thân tàn lấp vùi cùng mưa sa, nắng đổ.
Một phen vận nước, lâm cảnh gông cùm áp bức, uất hận dâng trào;
Triệu tấm lòng dân, dựng cờ chính nghĩa đấu tranh, hờn căm bộc nổ.
Thống trị thập niên; Phục thù bách độ.
Trong ngoài nối chí hùng anh; Bắc Nam chung đường chống cự.
Vì quyền lợi dân tộc quyết tâm quét sạch mọi căn cứ thực dân ra khỏi cõi bờ;
Bởi tương lai quốc gia, nhất định diệt trừ chủ nghĩa vô thần trên toàn lãnh thổ.
Cánh sát cánh, đập tan loài tàn bạo tàn hung;
Vai chen vai, đắp xây nền tự do tự chủ.
Xá kể hiểm nguy, Ngại gì gian khổ.
Kết đoàn; hợp ngũ.
Giải phóng quê hương; Trùng tu xứ sở.
Lấy sức mạnh dân tộc làm căn bản tiến hành kháng chiến, chấp nhận hy sinh;
Biến tinh thần đoàn kết thành vũ khí cách mạng đấu tranh, san bằng nguy khó.
Viễn xứ tiễn kẻ về khu; Làng thôn đưa người tới cứ.
Đồng loạt tiến công; Nhất tề đối phó.
Rừng thẳm, bưng biền; Nông thôn, thành phố.
Thế kháng chiến: sôi sục quân dân;
Đám giặc thù: lung lay hàng ngũ.
Rã binh; Đào ngũ.
Cán bộ: tham ô; Đảng viên: hối lộ.
Kháng chiến Vinh Sơn Đắc Lộ: Lửa kiêu hùng rực sáng thành đô;
Phục quốc Châu Đốc Tây Ninh: Chuông bất khuất ngân vang nội cỏ.
Phá cầu; Đắp lộ.
Bỏ trường; Bãi chợ.
Nông trường xẻ bờ lấp rạch, cấy mạ sâu chống lại chỉ tiêu;
Nhà máy gỡ ốc cưa thiều, pha nhớt cặn phá hư khí cụ.
Trẻ già trai gái gắn bó đồng cam;
Trên dưới trong ngoài sẵn sàng cộng khổ.
Giữa quê hương đen tối: Tiếng Tổ Quốc rung chuyển không gian;
Nơi xứ sở điêu tàn: Lời Non Sông âm vang kim cổ.
Mái lá, lều tranh; Đồng hoang, thị tứ.
Tay nắm tay trao mối hy vọng tràn trề; Mặt đón mặt đưa niềm tin yêu rạng rỡ.
Tiếng nói Việt Nam Kháng Chiến vang trong lòng đất địch
là những phát thần công bắn vào hàng ngũ vong nô;
Đoàn quân Kháng Chiến Việt Nam hợp cùng khối nhân dân
là những đạo hùng quân phá tan thành trì chế độ.
Khắp non sông tổ quốc, toàn dân kháng chiến, toàn diện đấu tranh;
Khối hải ngoại đồng bào, một mối sắt son, một lòng phục vụ.
Tiền tuyến trải rộng năm châu; Chiến trường không phân ranh lộ.
Từ Âu tới Á, mỗi người Việt là một chiến sĩ tự do;
Từ Đông sang Tây, mỗi nhà Nam là một chiến khu mật cứ.
Kháng chiến toàn dân; Đấu tranh toàn bộ.
Đồng tâm đứng dậy: Cô lập, tiêu diệt bạo tàn;
Nhất chí vùng lên: Phát huy, giương cao nghĩa cả.
Nhất định không để lũ bạo cuồng thống trị hòng lừa bịp thế giới tự do;
Cương quyết bắt buộc đám đầy tớ ngoại bang phải trả lời loài người tiến bộ.
Về tội ác dã man của tập đoàn bá quyền
đang ngày đêm hủy diệt tất cả khối dân tộc đồng bào;
Về kiếp sống đọa đày của quần chúng lầm than
đang tháng năm ngục tù trong nanh vuốt bạo cầm ác thú.
Người Việt đã biến quốc hận thành quốc kháng,
tiếp tục tiến hành cách mạng, giải phóng quê hương;
Dân Nam đã đổi nhục ô thành mối căm thù,
miệt mài vận dụng đấu tranh, rạng danh tổ quốc.
Đăng đàn diễn thuyết, hô hào; Xuống đường biểu tình, cổ võ.
Chặn xe tên Thạch, lột mặt, xé cờ; Đón đường tên Đồng, chỉ tên, kéo cổ.
Khí thế cách mạng ngời ngời; Tinh thần đấu tranh gắn bó.
Nọ, bốn biển, cờ Chính Nghĩa phất phới tung bay;
Kia, năm châu, hội Đồng Tâm tưng bừng gặp gỡ.
Cuộc hành trình Tự Do Cho Việt Nam đang là
thông điệp Việt Nam gửi cho thế giới, trước tòa án lương tâm;
Cuốn bạch thư Chữ Ký Của Đồng Bào chính là
bản án dành cho cộng nô giữa Quốc Liên trụ sở.
Tiếng nói Tự Do Việt Nam ngạo nghễ cất cao;
Ý chí Việt Nam Tự Do kiêu hùng biểu lộ.
Quyết tranh đấu, đem lại độc lập, thanh bình;
Thề hy sinh, lấy về tự do, tự chủ.
Tiến Lên! Phục Vụ!
Giải phóng Việt Nam! Diệt trừ cộng đỏ!
Việt Nam: Tự Do! Việt Nam: Tự Chủ!
Việt Nam: Muôn Năm! Việt Nam: Cường Vũ!

(Nguyễn Lộng Sơn)

Đài Phát Thanh Việt Nam Kháng Chiến

Ngày 27 tháng 12 năm 1983, đồng bào ở nhiều nơi trong nước đã được nghe thông báo một sự kiện lịch sử. Đó là sự chính thức hoạt động của đài phát thanh Việt Nam Kháng Chiến. Để đi đến kết quả này, nhiều trái tim và khối óc đã làm việc miệt mài trong một thời gian dài hầu giải quyết nhiều bài toán phức tạp. Việc nghiên cứu thực hiện khả năng phát thanh đã được xúc tiến từ cuối năm 1979, và những trang thiết bị máy móc đã được thiết kế tại khu chiến từ năm 1981. Ngoài việc thiết kế và thử nghiệm làn sóng phát thanh, Mặt Trận còn phải nghiên cứu giải quyết nhu cầu tiếp vận nhiên liệu, phụ tùng thay thế và nhất là bảo vệ an ninh để có thể đối phó với những cuộc tấn công của đặc công Việt cộng vào căn cứ. Tất cả những vấn đề này đã được giải quyết trọn vẹn và đài Việt Nam Kháng Chiến chính thức phát thanh từ căn cứ 15 của Mặt Trận, trên làn sóng 7400 và 10.300 kí-lô chu kỳ, vào đúng 5 giờ sáng ngày nói trên.

"Hôm nay đây, một tiếng nói mới, bắt đầu vượt không gian để đến với đồng bào và các chiến hữu. Đó là tiếng nói Việt Nam Kháng Chiến.

Hôm nay đây, không gian bao la không còn là tiếng nói bất chính của tập đoàn bạo quyền Việt cộng độc quyền thao túng nữa. Nhân dân Việt Nam sẽ tự nói lên tiếng nói của mình, sẽ tự nói lên nguyện vọng của mình".

Khi khởi sự, đài phát thanh mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 1 tiếng. Đến ngày thứ ba, đài phát 3 lần, và một tháng sau, phát 5 lần một ngày. Đến tháng 5 năm 1984, đài phát thêm 3 buổi phụ trội, nâng tổng số lần phát thanh hàng ngày lên thành 8 lần. Trong nhiều năm tháng, đài Việt Nam Kháng Chiến đã phát thanh liên tục không một ngày gián đoạn. Trong nội dung phát thanh, đài đã vạch trần bản chất độc tài phi nhân cũng như những thủ đoạn gian manh của chế độ Việt cộng. Đài cũng loan tải rộng rãi đến đồng bào trong nước những tin tức biến chuyển trên thế giới cũng như những chiến dịch đấu tranh của đồng bào hải ngoại. Những chương trình phát thanh của đài Việt Nam Kháng Chiến đã làm nức lòng đồng bào trong nước, tạo thêm sự phân rã trong hàng ngũ cán binh Việt cộng, cũng như tạo cơ hội kết hợp cho những tổ chức kháng cự trong nước. Trong một cuộc phỏng vấn của nhật báo Yomiuri trong dịp hướng dẫn phái đoàn Mặt Trận công du Nhật Bản, chiến hữu Chủ tịch Hoàng Cơ Minh đã đánh giá "Sức mạnh của đài phát thanh Việt Nam Kháng Chiến còn hơn cả một đạo quân với vài ba chục ngàn người".

Đến cuối thập niên 80, tình hình thế giới có nhiều thay đổi. Sau khi Việt cộng bị áp lực quốc tế phải rút quân ra khỏi Cam Bốt vào cuối năm 1989, các quốc gia ASEAN đã thay đổi thái độ đối với Việt cộng, từ đối đầu chuyển sang đối thoại. Trong bối cảnh đó, Việt cộng tìm đủ mọi cách đến gần Thái Lan để mong chính quyền Thái không yểm trợ kháng chiến Việt Nam. Từ đầu năm 1991, lực lượng biên phòng Thái Lan bắt đầu gây khó khăn cho việc tiếp vận cho đài Việt Nam Kháng Chiến, cũng như một số đường giao liên của Mặt Trận. Do những khó khăn này, đài Việt Nam Kháng Chiến đã phải ngưng hoạt động vào giữa năm 1991 sau gần 7 năm hoạt động..

Đài phát thanh Việt Nam Kháng Chiến

Những Điều Vụn Vặt Về Đài Việt Nam Kháng Chiến

* Đài Việt Nam Kháng Chiến phát thanh trắc nghiệm lần đầu vào ngày 14-2-1983. Trong buổi phát thanh trắc nghiệm này, đài đã cho phát thanh bản "Piano Concerto" của Tchaikovsky.

* Buổi phát thanh đầu tiên khởi sự lúc 4 giờ 54 phút 32 giây ngày 27-12-1983. Khi nhạc dò đài vừa dứt, tiếng chuông báo hiệu điểm đúng 5 giờ sáng và quốc ca Việt Nam vang dội trên bầu trời đất nước sau gần 9 năm vắng tiếng.

* UPI là hãng thông tấn đầu tiên loan tin về sự hiện diện của đài Việt Nam Kháng Chiến. Tiếp theo là các hãng AFP, Reuters.

* Ở trong nước, đồng bào miền Trung nghe đài Việt Nam Kháng Chiến rõ nhất, kế đó là Bắc Việt và đồng bằng sông Cửu Long. Vùng nghe kém nhất là Sài-Gòn.

* Ngoài lãnh thổ Việt Nam, đài Việt Nam Kháng Chiến còn có thể nghe được tại các quốc gia Đông Nam Á và Úc Đại Lợi.

Một buổi văn nghệ yểm trợ đài Việt Nam Kháng Chiến

Nội Dung Buổi Phát Thanh Đầu Tiên 27-12-1983

  • Nhạc dò đài - Quốc Thiều - Giới Thiệu Đài - Đài Hiệu.
  • Lời tuyên bố của đài Việt Nam Kháng Chiến.
  • Nhạc "Đường Lên Chiến Trường" của kháng chiến quân Hoàng Thiện.
  • Bài "Sự thành lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam và công cuộc kháng chiến anh dũng của toàn dân ta".
  • Nhạc "Nợ nước non" của kháng chiến quân Nguyễn Anh Điền.
  • Bài "Lời kêu gọi đồng bào toàn quốc", phát thanh băng ghi âm trực tiếp buổi lễ công bố Cương Lĩnh Chính Trị ngày 8-3-1982.
  • Bài "Nhật lệnh cho các kháng chiến quân".
  • Nhạc "Kháng chiến quân Việt Nam hành khúc" của kháng chiến quân Trần Thiện Khải.
  • Bài "Sự lường gạt không tiền khoáng hậu".
  • Nhạc "Tình thư của lính" của Trần Thiện Thanh.
  • Lời chào tạm biệt của đài Việt Nam Kháng Chiến - Đài hiệu.



Lời Tuyên Bố Của Đài Việt Nam Kháng Chiến
Trong Buổi Phát Thanh Đầu Tiên 27-12-1983

Kính thưa đồng bào và các chiến hữu,

Hôm nay đây, một tiếng nói mới, bắt đầu vượt không gian để đến với đồng bào và các chiến hữu. Đó là tiếng nói Việt Nam Kháng Chiến.

Kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi nhóm lãnh đạo hèn nhát của Miền Nam Tự Do đầu hàng, cả nước ta đã trở thành một nhà tù vĩ đại. Toàn dân Việt Nam ta trở thành tù nhân nô lệ của tập đoàn thống trị bạo tàn Việt Nam cộng sản tức Việt cộng tay sai bản xứ của đế quốc vô thần Nga Xô.

Lịch sử Việt Nam là lịch sử của một dân tộc oai hùng, một dân tộc rất hiền hoà nhưng cũng rất kiên cường bất khuất. Trong quá khứ dân tộc ta đã từng anh dũng kháng chiến chống ngoại xâm hoặc vùng lên đấu tranh để lật đổ các chính thể bạo quyền ác đảng.

Trong mọi cuộc kháng chiến, trong mọi cuộc đấu tranh, nhân dân ta vẫn luôn luôn là kẻ chiến thắng.

Kể từ tháng 4 năm 1975, mặc dầu bè nhóm lãnh đạo Miền Nam Tự Do đã hèn nhát đầu hàng, nhưng lửa kháng chiến vẫn bừng cháy trong lòng người dân Việt.

Ngày 30 tháng 4 năm 1980, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam được thành lập để hướng dẫn toàn dân tiến hành cuộc đấu tranh lịch sử của dân tộc.

Và ngày hôm nay, tiếng nói của kháng chiến Việt Nam vang dội không trung.

Sự có mặt của đài Việt Nam Kháng Chiến là một biến cố quan trọng, đánh dấu một bước tiến vô cùng to lớn của toàn dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng Tổ Quốc.

Kể từ nay, toàn dân ta đã giành lại được tiếng nói vốn dĩ đã bị bạo quyền Việt cộng bóp nghẹt từ hơn tám năm nay. Mai này, chúng ta sẽ còn tiến mạnh hơn trên đường tranh đấu. Chúng ta sẽ giành lại quyền sống. Chúng ta sẽ đánh đuổi thực dân Nga Xô ra khỏi nước. Chúng ta sẽ lật đổ tập đoàn bạo quyền Việt cộng để giành lại chủ quyền thiêng liêng của toàn dân.

Kể từ nay không gian bao la không còn là nơi để tiếng nói bất chính của tập đoàn bạo quyền Việt cộng độc quyền thao túng nữa. Nhân dân Việt Nam sẽ tự nói lên tiếng nói của mình, sẽ tự nói lên nguyện vọng của mình.

Việt Nam Kháng Chiến là tiếng nói đích thực của toàn dân Việt, vang lên từ những khổ đau cùng cực của con người đang phải sống trong ngục tù trần thế. Nhưng cũng chính từ những khổ đau cùng cực này của con người mà câu hò kháng chiến, mà lời thề quyết tâm giải phóng quê hương bắt đầu vang động khắp năm châu.
Chủ trương của đài Việt Nam Kháng Chiến là phục vụ toàn dân, phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng oai hùng mà toàn dân ta đang cùng một lòng sát cánh chiến đấu cho tới thắng lợi cuối cùng.

Việt Nam Kháng Chiến nói lên quyết tâm đấu tranh và nhịp tim kháng chiến của toàn dân trong nước với đồng bào thân yêu ở hải ngoại.

Việt Nam Kháng Chiến sẽ là sức mạnh đập tan ngục tù tư tưởng, sẽ là sức mạnh bứt phá các biện pháp mà bạo quyền Việt cộng đang áp dụng nhằm ngăn cách liên lạc giữa các địa phương trong nước để bịt mắt, bưng tai toàn dân ta.

Chắc chắn từ nay, toàn dân ta không còn phải sống trong cảnh mù mờ bưng bít nữa. Việt Nam Kháng Chiến sẽ đưa các tin tức đấu tranh tới đồng bào và các chiến hữu. Việt Nam Kháng Chiến sẽ tường trình cùng đồng bào và các chiến hữu những biến chuyển trên thế giới về tất cả mọi phương diện văn hoá, xã hội, khoa học, cũng như thời sự.

Chắc chắn từ nay, toàn dân ta không còn phải sống trong cảnh câm nín nữa. Chúng ta sẽ nói cho toàn thế giới biết những khổ đau mà dân tộc ta đang là nạn nhân. Chúng ta sẽ nói cho toàn thế giới biết những tội ác long trời lở đất của tập đoàn bạo chúa Hà Nội. Chúng ta sẽ nói cho toàn thế giới biết quyết tâm đấu tranh để giành độc lập cho xứ sở, để giành lại tự do và hạnh phúc của toàn dân ta.

Việt Nam Kháng Chiến là tiếng nói ca tụng quê hương Việt Nam muôn thuở, bảo vệ và phát huy nền văn hoá phong phú và các truyền thống cao đẹp của dân tộc ta mà tập đoàn bạo quyền Việt cộng đang tìm đủ mọi cách để đập phá hủy diệt.

Trên đường đấu tranh, Việt Nam Kháng Chiến là nhịp cầu nối liền Mặt Trận với toàn dân, chuyển đạt tới toàn dân mọi tư tưởng và hướng dẫn, để tất cả chúng ta kiên định niềm tin vào chiến thắng, vào sức mạnh của toàn dân, để tất cả chúng ta cùng phấn khởi kháng chiến lập công cứu nước.

Trong giai đoạn đầu, để đồng bào và các chiến hữu có dịp làm quen với đài, và cũng để những vấn đề cơ bản được phổ biến kỹ lưỡng và đầy đủ tới toàn thể đồng bào, mọi chương trình của đài Việt Nam Kháng Chiến sẽ được phát thanh liên tiếp trong nhiều ngày. Qua giai đoạn này, đài Việt Nam Kháng Chiến sẽ theo hình thức phát thanh với chương trình phát thanh nhất định nhưng thường xuyên thay đổi nội dung để đồng bào và các chiến hữu theo dõi được những tin tức mới nhất, những hướng dẫn mới nhất.

Việt Nam Kháng Chiến kêu gọi toàn thể đồng bào hãy thường xuyên đón nghe mọi chương trình phát thanh của đài chúng ta. Đồng bào cũng nên truyền tai nhau, phổ biến các tin tức tới những người không nghe được vì thiếu phương tiện hay không có hoàn cảnh.

Từ nay, Việt Nam Kháng Chiến sát cánh cùng đồng bào và các chiến hữu, cùng nhau chia xẻ những đắng cay của quê hương dân tộc, cùng nhau chia xẻ những niềm vui của đại cuộc đấu tranh. Và chắc chắn trong một tương lai gần đây, chúng ta sẽ cùng nhau đón mừng ngày trọng đại của đất nước: Ngày Tổng Giải Phóng Toàn Quốc Việt Nam.

Trân trọng kính chào đồng bào và các chiến hữu.

Quốc Khánh Việt Nam Trong Giai Đoạn Kháng Chiến


Trong bản Cương Lĩnh Chính Trị công bố cùng toàn thể đồng bào trong và ngoài nước cũng như quốc tế ngày 8-3-1982, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam đã minh định rằng, công cuộc đấu tranh chấm dứt chế độ Việt cộng nhằm giải phóng và canh tân đất nước là một cuộc đấu tranh "toàn dân, toàn diện". Toàn dân vì đây là cuộc đấu tranh của đại khối dân tộc Việt Nam, không phân biệt thành phần, đẳng cấp, xuất xứ, xu hướng chính trị, tôn giáo, sắc tộc... để chống lại thiểu số thống trị là lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam. Toàn diện vì Mặt Trận chủ trương vận dụng tất cả mọi phương tiện để tấn công vào bạo quyền Việt cộng trên khắp mọi lãnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội... Đây là một cuộc đấu tranh cam go, gian khổ, nhưng cũng rất hào hùng và chói sáng chính nghĩa, và là cuộc chiến đấu cuối cùng để mãi mãi chấm dứt thảm cảnh của dân tộc, để chúng ta khởi sự một kỷ nguyên mới : kỷ nguyên xây dựng một nước Việt Nam giầu mạnh, oai hùng góp mặt với mọi quốc gia trên thế giới.

Theo chủ trương nói trên, nhằm mục tiêu tấn công vào tư thế chính trị của Việt cộng, phá bỏ ngày gọi là "Quốc Khánh 2-9" của chế độ Hà Nội, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam đã đưa ra đề nghị chọn ngày Ghi Ơn Quốc Tổ Hùng Vương Mùng 10 tháng 3 Âm Lịch làm ngày Quốc Khánh Việt Nam trong giai đoạn đấu tranh giải phóng. Trong bản đề nghị này, Mặt Trận cũng xác định là một khi đất nước được giải phóng, Quốc hội Việt Nam do dân chúng bầu cử lên trong tương lai sẽ tuyển chọn ngày Quốc Khánh mới cho Việt Nam.

Mặt Trận quan niệm rằng, để phát huy chính nghĩa của công cuộc đấu tranh giành lại tự do dân chủ cho dân tộc, chúng ta phải xóa bỏ mọi quy ước gian manh của chế độ cộng sản Việt Nam, xóa sạch tàn tích độc ác của chế độ Hà Nội, xóa bỏ ngày gọi là "quốc khánh" ngày 2 tháng 9 hàng năm của tập đoàn cộng sản Việt Nam. Đây là ngày mà Hồ Chí Minh và tập đoàn đảng cộng sản Việt Nam đã cướp công kháng chiến của dân tộc, thiết lập chuyên chính vô sản, gây đau thương tang tóc cho dân tộc, dìm đất nước trong đói nghèo lạc hậu.

Phủ nhận ngày "quốc khánh" của Việt cộng, có nghĩa là có nhu cầu xác định một ngày Quốc Khánh chính thống của dân tộc Việt Nam. Chúng ta phải chọn lựa một ngày phản ảnh tinh thần dân tộc và nhân bản của dân tộc Việt Nam. Ngày chọn lựa cũng phải phản ảnh tinh thần đoàn kết của chúng ta, làm sáng tỏ lẽ chính thống của dân tộc Việt Nam, phát huy được chính nghĩa của dân tộc thành sức mạnh tinh thần cho công cuộc đấu tranh giành lại tự do dân chủ cho đất nước. Ngày Quốc Khánh này cũng không đến từ một biến cố chính trị, trong đó có người vui kẻ buồn, không là ngày chiến thắng của một phe mà sau khi tiếng súng đã im vẫn còn tiếng người nức nở. Ngày Quốc Khánh phải là ngày của thái hòa khai mở, vượt lên trên những tranh chấp của mọi thời kỳ. Ngày Quốc Khánh phải là ngày có ý nghĩa của toàn dân, từ trước tới sau.

Hiểu rộng hơn, Quốc Khánh còn là ngày tôn vinh Quốc Gia và Dân Tộc. Đây là ngày của muôn dân Việt Nam cùng chia xẻ niềm tự hào là người Việt, cùng chia xẻ niềm hy vọng nơi tương lai nòi giống. Dân tộc Việt Nam có lúc vinh lúc nhục, nhưng trong mọi hoàn cảnh, con cháu Lạc Hồng vẫn phải phát huy và tuyên dương tinh thần Việt Nam bất khuất. Sau những đổ vỡ dồn dập, sau bao tang thương chia lìa, chúng ta phải khôi phục lại tinh thần tích cực và kiên trì đó. Ngày Quốc Khánh sẽ không chỉ là một ngày trọng đại để dân tộc Việt Nam làm rạng rỡ những đức tính cao đẹp nhất của dân tộc. Dù không có Việt cộng, dù không có chiến tranh, chúng ta vẫn có nhu cầu xác định một ngày Quốc Khánh.

Trong tinh thần đó, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam đã đề nghị chọn ngày Ghi Ơn Quốc Tổ Hùng Vương - Mùng 10 tháng 3 Âm Lịch làm Ngày Quốc Khánh Việt Nam trong giai đoạn đấu tranh giải phóng đất nước khỏi ách cai trị của đảng cộng sản Việt Nam. Việc đề nghị này hoàn toàn vì nhu cầu đấu tranh, để đại khối dân tộc có chung một ngày tưởng nhớ Tổ tiên và bày tỏ sự chống đối quyết liệt của mình đối với những quy ước do chế độ cộng sản áp đặt lên cả nước. Sau này, khi đất nước có tự do dân chủ, toàn thể nhân dân Việt Nam sẽ quyết định về ngày Quốc Khánh chính thức cho một nước Việt Nam mới.

Mùng 10 tháng Ba Âm lịch được ghi nhận như là ngày Tổ Tiên Việt Nam đã khai sinh ra dân tộc Việt Nam. Đây là ngày biểu tượng cho những đức tính nhân bản và anh dũng của Tổ tiên. Đây cũng là ngày mà mọi người đều vui mừng đón nhận, không phải là ngày kết thúc một cuộc chính biến trong đó có người thành người bại, người vui người buồn. Đây là ngày đầu tiên dân tộc Việt Nam góp mặt với nhân loại, ngày mở đầu cho một triều đại từ xưa cho tới về sau.

Chọn ngày Quốc Tổ là xác định sự chính thống về phía dân tộc. Chọn ngày Quốc Tổ là minh định niềm thủy chung với một giá trị đang bị tập đoàn cộng sản Việt Nam xóa bỏ ở trong nước. Tổ tiên chúng ta đã chăn dắt muôn dân trong tình thương yêu bao bọc. Tổ tiên chúng ta không xua đuổi con cháu ra biển, đi tỵ nạn. Tổ tiên chúng ta không bảo thủ hẹp hòi, không lấy oán thù làm thuật trị người, không dùng tà đạo để mưu bán nước hại dân như tập đoàn cộng sản Hà Nội.

Chọn ngày Quốc Tổ, chúng ta còn muốn nói với những người hiện đang lầm lỡ làm công cụ cho một thiểu số lãnh đạo u tối trong đảng cộng sản Việt Nam nhìn ra cội nguồn tổ tông mà rời bỏ hàng ngũ hại dân hại nước trở về với đại khối dân tộc.

---- oOo ----

QUỐC TỔ VÀ QUỐC KHÁNH

Linh mục Trần Quý Thiện

Đền thờ quốc tổ Hùng Vương tại Phú Thọ, miền Bắc Việt Nam
Trên thế giới, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có một nguồn gốc lịch sử riêng biệt. Đối với người dân, dù sống trong nước hay ở nước ngoài, cội nguồn dân tộc luôn tượng trưng cho những giá trị lịch sử dân tộc cao quý nhất. Và truyền thống dân tộc thường được thể hiện qua ngôn ngữ, phong tục, tập quán hay những hình thức xử thế mà TổTiên muốn truyền lại cho con cháu.

Hàng năm đến ngày10 tháng Ba Âm lịch (năm nay nhằm ngày Thứ Tư 16/4/1997), mọi người Việt Nam dù sống nơi phương trời nào cũng đều hân hoan mừng ngày "Giỗ Vua Hùng". Đó là một dịp để mọi người chúng ta nhớ đến công đức của Tổ Tiên đã sáng lập dân tộc và quốc gia Việt Nam. Đây cũng là một ngày đại lễ của dân tộc, để chúng ta bảo vệ và phát huy văn hóa của đất nước.

I- Vài Nét Lịch Sử Về Tổ Hùng Vương:

Theo sử sách và tục truyền, Vua Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh, gặp một nàng tiên là VụTiên, kết hôn và sinh hạ một người con trai là Lộc Tục.

Về sau, vua Đế Minh truyền ngôi cho người con trưởng làm vua phương Nam, xưng là Kinh DươngVương, quốc hiệu là Xích Quỷ (có nghĩa là chủ chốt các tinh hoa miền Nam). Ranh giới nước Xích Quỷ thời bấy giờ như sau: Bắc giáp Động Đình Hồ (tức Hồ Nam), Nam giáp Hồ Tôn (tức Chiêm Thành), Tây giáp Ba Thục, Đông giáp biển Nam Hải.

Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào năm Nhâm Tuất (năm 2879 trước Tây Lịch), sau đó kết hôn với con gái của Động Đình Quân là Long Nữ, sinh ra một người con trai là Sùng Lãm, nối ngôi vua cha gọi là Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai, tên là Âu Cơ. Tục truyền rằng: Bà Âu Cơ chỉ sinh một lần mà được 100 người con trai. Sau này Lạc Long Quân chia cho nàng 50 con để dắt lên núi. Còn lại 50 con, chàng đưa về hướng biển Nam Hải.

Cuối đời, Lạc Long Quân phong cho người con trai trưởng sang làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương, sáng lập ra nước Việt Nam sau này.

Vua Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Việt ngày nay). Theo sử cũ Việt Nam, nước Văn Lang thời Tổ Hùng Vương là một giải giang sơn kéo dài từ Vĩnh Phúc Yên đến Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị bây giờ.

Tổ Hùng Vương có cả thảy 18 đời vua. Thời đó dân trong nước làm nghề nông và chài lưới. Trước đây, hàng năm đến ngày 10 tháng Ba Âm lịch, dân chúng khắp nơi, nhất là là đồng bào Bắc Việt, đều nô nức kéo nhau tới lễ bái Tổ Tiên tại đền Hùng, mà người dân thường gọi là "Trẩy Hội Đền Hùng". Đây là một lễ tiết lâu đời mà người dân Việt hàng năm trẩy hội để nhớ ơn Tổ Tiên đã có công khai phá xây dựng đất nước.

Hiện nay đền Hùng Vương vẫn còn là một di tích lịch sử, và người dân khắp nơi vẫn thường xuyên lui tới ngọn núi Nghĩa Lĩnh, cũng gọi là Hùng Sơn, tại thị xã Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Bắc Việt.

II- Quốc Tổ Và Quốc Khánh:

Vật đổi sao dời, phúc tổ vẫn lưu nền cổ tích
Nước nguồn cây cội, đạo người nên nhớ một Hùng Vương.

Hai câu đối khuyết danh trên đây như muốn nhắc nhở chúng ta về công đức Tổ Tiên. Ngày 10 tháng Ba âm lịch, chúng ta không biết rõ là ngày húy nhật của vua HùngVương nào trong 18 đời vua Hùng. Chúng ta chỉ biết rằng người xưa đã sớm biết chọn ngày để con cháu muôn đời về sau có dịp tụ họp nhau, kính nhớ Tổ Tiên, nhớ công ơn dựng nước, nhớ công đức của những vị vua Hùng đã sáng lập nên dân tộcViệt, dòng giốngViệt, quốc gia Việt.

Là con người sinh ra trên cõi đời này, ai cũng thấy cần có một Tổ Quốc, một quê hương, trong đó là cội nguồn của cả một dòng giống được phát sinh và liên kết với nhau qua những thăng trầm của lịch sử.

Cũng như tất cả những người tha hương của các dân tộc, các quốc gia khác, người Việt chúng ta đang sống ở hải ngoại lúc nào cũng hướng về quê hương, về quê cha đất Tổ. Đó là một nơi mà chúng ta đã sinh ra, trưởng thành bên gối cha mẹ, ông bà hoặc là nơi mà chúng ta lưu luyến vì còn mồ mả Tổ Tiên, thân quyến thuộc, bằng hữu....

Quê hương là một cái gì đó vô cùng cao quý và thiêng liêng, mà chỉ khi nào mất đi, người ta mới cảm thấy luyến tiếc thương nhớ. Nhưng nói đến quê hương không có nghĩa là gợi lại một mảnh đất, một phong cảnh, một dòng sông, một con đường, một mái nhà.... Nói đến quê hương là nói đến những con người có cùng một màu da, một dòng máu, cùng nói chung một thứ tiếng.... Nói theo kiểu "Việt Nam", chúng ta nói đến quê hưong là nói đến những con người "đồng bào", nghĩa là những người cùng chung một cái bọc mà sinh ra. Đó là ý nghĩa cao quý sâu sắc của huyền thoại 100 cái trứng trong một câu chuyện lập quốc đời vua Hùng của chúng ta.

Chính vì nhu cầu thiêng liêng cao quý mang tính dân tộc này, mà kể từ sau biến cố 30 tháng Tư năm 1975, khi mà những người Việt Nam không chấp nhận chế độ cộng sản bỏ nước ra đi, kết thành những cộng đồng lớn nhỏ khắp nơi tại hải ngoại, nhiều nhân vật và đoàn thể đã có sáng kiến đề nghị đưa ngày Quốc Tổ Hùng Vương lên vị trí xứng đáng quan trọng nhất trong niên lịch, là ngày Quốc Khánh của dân tộc. Theo thiển ý của người viết bài này, đề nghị này không phải là không có cơ sở và hợp tình hợp lý, đáng mọi người quan tâm lưu ý.

Theo học giả tên tuổi Đào Duy Anh định nghĩa trong Hán Việt Tự Điển thì ngày Quốc Khánh là một ngày Đại Lễ mà mọi người dân trong một quốc gia đều hân hoan vui mừng, để kỷ niệm một biến cố lịch sử dân tộc nào đó, được mọi người mặc nhiên công nhận. Thí dụ: nhân dân Pháp hàng năm mừng ngày Quốc Khánh vào Lễ Cộng Hòa 14 tháng Bảy Dương lịch, kỷ niệm ngày phá ngục Bastille năm 1789. Nhân dân Hoa Kỳ mừng ngày Quốc Khánh vào ngày 4 tháng 7 dương lịch, kỷ niệm Ngày Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776. Và nhân dân Trung Hoa Dân Quốc mừng ngày Quốc Khánh vào ngày Song Thập, ngày 10 tháng 10 mỗi năm.

Cũng như tại Việt Nam trước đây, trong khi nhân dân miền Nam mừng Quốc Khánh vào ngày 26 tháng 10, kỷ niệm ngày thành lập Đệ Nhất Cộng Hòa năm 1955, và sau này đổi thành ngày 1 tháng 11, kỷ niệm cuộc cách mạng năm 1963, thì tại miền Bắc, nhân dân mừng Quốc Khánh vào ngày 2 tháng 9, kỷ niệm Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1945.

Trong cuốn Kinh Hùng Khải Triết, Linh mục học giả Lương Kim Định, một người đã dầy công nghiên cứu lịch sử triết lý cũng như văn hóa dân tộc Việt Nam trên 40 năm qua, cũng tán thành lấy ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương làm ngày Quốc Khánh, vì ngày lễ ngày bao hàm không những ý nghĩa Tổ Quốc (thành lập quốc gia) mà luôn cả Tổ người (nguồn gốc Tổ Tiên).

Theo ngài quả quyết, hơn nữa nếu mừng ngày Quốc Khánh vào ngày Giỗ Tổ thì chúng ta đã tạo được một đại lễ đặc trưng của Việt Nam mà không nơi nào trên thế giới có cả. Các nước khác trên thế giới chỉ có ngày Quốc Khánh để kỷ niệm một biến cố lịch sử nào đó, hoặc cũng chỉ mừng ngày độc lập chứ không phải Giỗ Tổ theo hai nghĩa trên, nói lên sự độc lập theo hàng dọc đối với đất trời, cũng như hàng ngang đối với bạo lực chuyên chế (xem Kinh Hùng Khải Triết trang 229-239).

Từ nhiều năm qua, nhiều tổ chức, đoàn thể, đảng phái như Hội Hướng Đạo Việt Nam, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, đã vận động chọn ngày Giỗ Tổ Hùng Vương làm ngày Quốc Khánh. Nhiều cộng đồng người Việt trên thế giới cũng đã liên tục chào mừng ngày Quốc Khánh cùng chung với ngày Giỗ Tổ Vua Hùng.

Tất cả chỉ vì mục đích duy nhất: Đề cao tâm tình nhớ ơn Quốc Tổ này, mọi thành phần người Việt, không phân biệt tuổi tác, địa phương, tôn giáo, chính kiến, trong hay ngoài nước, cùng phát huy Tinh Thần Yêu Nước và Yêu Nhau trong nghĩa đồng bào vì trăm họ cũng chung một bọc, cùng một mẹ Việt Nam.

Ngày Quốc Tổ sẽ là một điểm hội tụ, là mẫu số chung cho tất cả mọi thành phần dân tộc, vượt lên trên mọi biến cố chính trị hay lịch sử thường tình, vì bất cứ ai, nếu còn nhận mình là người Việt Nam thì không thể nào không chấp nhận Tổ Hùng Vương là cội nguồn dân tộc của mình. Có lẽ chỉ trừ những ai vong bản, những ai quên cội nguồn dân tộc, coi Các-Mác Lê-Nin là ông tổ của họ, những người đó mới quay lưng lại với Quốc Tổ, vì đặc quyền đặc lợi đảng phái, đang tâm chà đạp nhân dân bao năm nay trong đói nghèo lạc hậu, mất tự do dân chủ.

Chúng ta không ngạc nhiên khi hay tin tức trong nước, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Tổng thư ký Viện Hoá Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, qua thư gửi Đỗ Mười, ngày 19-8-1994, đã thách thức như sau: "Thế sao đảng Cộng Sản Việt Nam không làm ngôi đền thật lớn ở ngay Hà Nội, để thờ Quốc Tổ Hùng Vương? Và tuyên bố lấy ngày10 tháng Ba Âm lịch - Ngày Giỗ Tổ - làm ngày Quốc Lễ. Nghỉ trọn ngày để cho toàn dân có dịp tưởng nhớ công ơn Đức Quốc Tổ và các bậc tiền bối, đã có công mở nước dựng nước, nhờ thế mà ngày nay mới có đảng Cộng Sản Việt Nam?".

Do đó, chúng tôi ước mong Ngày Quốc Khánh Nhớ ơn Quốc Tổ không phải chỉ là ngày mừng "một kỷ niệm chết", đã qua đi trong dĩ vãng lịch sử, mà cần phải làm sống lại "Tinh Thần Quốc Tổ", cũng như những nét đặc thù của dân tộc, để các thế hệ trẻ không quên đi truyền thống dân tộc, và nhân dân địa phương có dịp nhận xét về lịch sử hào hùng của dân tộc Việt. Ngoài các lễ nghi truyền thống, cần phải có các sinh hoạt văn hóa như văn nghệ, triển lãm, hội họa, ca nhạc.... Ngày Quốc Tổ - Quốc Khánh là ngày vừa bảo tồn vừa phát huy tất cả những gì là tinh hoa trong văn hóa dân tộc Việt.

Đại lễ "Chào Mừng Quốc Khánh - Ghi Ơn Quốc Tổ" tại Bá Linh năm 1991


Tại Houston, Texas năm 1993
Tại Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ năm 1999

Tại Adelaide, Úc năm 2001